Truyện ngắn
Vũ Thư Hiên
Đây là một truyện ngắn của một thời đã xa, trên nửa thế kỷ. Một
bạn đọc tìm lại được, có nhã ý gửi cho tôi. Giới thiệu với các bạn để thấy một
nét chấm phá của bức tranh quá khứ. Với tôi, những gì đã qua, khi nhớ lại vẫn
cho ta một chút bồi hồi không vô ích. Và có khi còn cho ta một cái gì hơn thế.
Người lái xe bực mình. Ai đời mấy
người khách đi nhờ từ lúc lên xe chỉ một mực im lặng. Cứ như thể họ nín thở
vậy. Mà anh thì muốn họ nói. Nói chuyện gì cũng được, miễn là có. Miễn anh được
nghe tiếng họ và không phải cảm thấy chỉ có mình anh trên chiếc xe tải cũ kỹ.
Đường thì dài.
Người đi nhờ xe nào cũng thế: lên
xe, họ im lặng. Kiểu như họ có điều e ngại – một câu nói không đúng chỗ, một
câu hỏi thừa hoặc vô duyên, làm mất đi cái may mắn vừa có được.
Mấy người mới lẩm cẩm làm sao, e
ngại mới vô ích làm sao – có người lái xe nào đã cho họ lên lại bỏ họ giữa
đường?
Buổi sáng hôm ấy khi người lái xe
vừa đỗ lại rẽ vào quán nước mua bao diêm thì đã có mấy người hấp tấp chạy đến,
vây quanh anh. Họ là những người lỡ chuyến xe khách sáng nay. Và chẳng ai muốn
ngủ lại trong quán trọ giữa đường đợi chuyến sáng hôm sau.
Người lái xe bối rối.
Trước những cái nhìn cầu khẩn
đang dõi vào mặt anh, anh không cất nổi lời từ chối. Họ đã thấy những bao tải
muối mới xếp đến tầng thứ hai trên thùng xe trống rỗng. Ngồi lên đấy được quá
mà, rộng chán. Mặt anh nghệt ra, tránh mắt họ. Anh không biết có cách nào giúp
họ - xe của anh không được phép chở khách. Mà họ cũng biết điều đó.
Nhìn thấy cảnh mấy người lúng
túng, anh công an trẻ măng, ria mép mới lún phún, bỏ đồn bước ra. Anh lẳng lặng
đòi xem giấy tờ của mấy người còn lại sau những người đã thất vọng bỏ đi. .
Người lái xe bỏ vào quán nước,
uống rất chậm một bát chè tươi.
Khi anh quay ra thì anh công an
nghiêm trang đề nghị anh cho bốn người lên xe: hai cô gái, một người đàn ông và
một anh bộ đội. Để cẩn thận, anh công an viết mấy chữ vào một mảnh giấy, đưa
cho anh lái xe. Anh lái xe gấp mảnh giấy bỏ vào túi ngực. Với mảnh giấy này anh
tin sẽ không bị làm khó dọc đường.
Trong khi anh công an lúi húi
viết, những người được đi nhờ vội vã trèo lên thùng xe.
Người cuối cùng gặp may là một bà
lão. Bà tất tả chạy đến, níu áo anh công an, bắt anh ta đọc một bức điện. Anh
công an còn đang ngần ngừ thì người lái xe đã kéo bà lão lên ngồi cạnh mình.
Xe vừa chạy bà lập tức ngủ, đầu
ngoẹo về một bên.
Qua Na Sầm.
Trận mưa đêm trước làm cho rừng
trẻ hẳn lại. Nước mưa còn đọng từng giọt lớn trên lá cây xanh thẫm ở những cành
vươn ra bên đường. Những cành cây quất mạnh vào kính chắn gió, ném những giọt
nước nhỏ mát rượi vào mặt người lái xe. Rừng và núi sáng hẳn lên sau trận mưa,
như thể có ai đó, một người tính cẩn thận, đã rửa từng chiếc lá một.
Một đàn bướm rung cánh trên những
bụi cây xa, dùng dằng mãi không chịu bay đi. Đến gần người lái xe mới biết đó
là những bụi lá trắng.
Con đường đá răm qua cơn mưa lấp
lánh dưới ánh mặt trời biến thành con sông nhỏ trôi nhanh dưới gầm xe. Gió phả
vào mặt người lái xe mang theo mùi đất ẩm, mùi lá mục và mùi hoa dại.
Một tiếng kêu ngạc nhiên khe khẽ
bay lên từ thùng xe. Người lái xe xoay kính chiếu hậu cho đến khi bắt gặp một
cặp mắt to đen láy.
Bên đường, xa xa, một người con
gái, không phải, một người đàn bà, địu con, vừa đi vừa đọc sách. Khi ô tô đến gần,
người đàn bà nép vào vệ đường, đầu đứa bé nhô lên khỏi vai gầy của mẹ. Thằng bé
giơ bàn tay nhỏ vẫy vẫy.
Cặp mắt đen cười trong gương rồi
quay về phía sau khi xe đi qua hai mẹ con. Một cô giáo, người lái xe nghĩ, chắc
lần đầu lên đây nhận việc. Phải là một cô giáo miền xuôi mới ngạc nhiên thấy
người dân tộc thiểu số đọc sách.
Người lái xe không nghe tiếng cô
giáo, nhưng hình như cô nói liến thoắng điều gì đó với mấy bạn đồng hành. Anh
loay hoay với cái kính chiếu hậu để nhìn thấy đủ mặt khách đi nhờ.
Họ sắp nói chuyện rồi, anh mỉm
cười.
Ở chỗ cặp mắt đen láy anh thấy
cái trán bóng của người đàn ông và mái tóc dài của một người con gái, người
khác chứ không phải cô giáo.
Người đàn ông có vẻ một cán bộ
hành chính, một cán bộ huyện chẳng hạn, anh nghĩ nhưng không chắc mình đoán
đúng. Anh ta ngồi, đầu hơi cúi bên cạnh anh bộ đội không còn trẻ. Gió lùa qua
cửa ca bin, qua lưới thép ngăn cách với thùng xe làm rối tung mái tóc người con
gái.
Trước kia, ở chỗ lưới thép là một
tấm kính. Trên đoạn đường gần Điện Biên Phủ, người lái xe bị bom phạt đứt mảng
trán, óc phọt ra ngoài, cả thân trên đổ xuống tay lái. Kính trước vỡ toang, hơi
bom thổi bung tấm kính sau trông ra thùng xe.
Xe dừng đột ngột làm người lái
phụ đâm bổ về phía trước, đầu toé máu. Anh nghe máy vẫn nổ đều đều như được
người lái kéo cần số về mo. Anh hì hục lôi cái xác nặng nề của bạn sang chỗ
mình, ngồi vào sau tay lái, cho xe tiếp tục vọt đi.
Bom vẫn rơi, nhưng anh không còn
nghe tiếng nổ, chỉ thấy những cột đất bay vọt lên quanh chiếc xe nghiêng ngả
trên con đường toang hoác.
Chiến tranh hết, anh lái phụ nọ
trở thành lái chính cho tới ngày được nhận xe mới cùng với chức vụ tổ trưởng
một tổ vận tải. Khi bàn giao xe cho chủ mới, anh cứ tần ngần đi quanh nó, sờ mó
mọi chỗ, vuốt ve mãi cái vô lăng bị mất một mảng nhựa để lòi cốt sắt han rỉ,
rồi nhẩn nha kể sự tích của nó cho anh kia nghe.
Chủ mới, là người lái chiếc xe
bây giờ, lắng nghe, nhưng dửng dưng nhìn nó. Xe đã qua đại tu, những chỗ bẹp,
những lỗ thủng do bom đạn đã được vá víu cẩn thận nhưng tinh mắt thì vẫn nhận
ra chúng dưới nước sơn mới. Chẳng cần ngồi vào tay lái anh cũng hiểu tình trạng
chiếc xe là thế nào. Không người lái xe nào hào hứng nhận một chiếc xe cũ.
Nhưng anh không có quyền đòi hỏi. Người ta phân cho anh xe nào anh phải nhận xe
ấy.
Anh thở dài. Rồi cũng phải quen
với nó thôi. Rồi cũng sẽ quen với nó thôi.
Chiếc xe không đến nỗi quá tệ -
động cơ còn ngon, vào cầu ra cầu vẫn trơn tru, phải tội cánh cửa bên trái không
sao đóng chặt được, trên đường nó liên tục lặp đi lặp lại mấy tiếng “tành tành
- tành tành tành - tành tành” như những nốt nhạc vô duyên. Riết rồi anh cũng
quen với nó. Những lúc vui anh còn lẩm nhẩm hoà theo: “tình tang – tình tang
tang – tình tang”.
- Chà, thế mà Bố Củng rồi kìa!
Anh bộ đội nói to, cố ý cho người lái xe nghe được. Người lái xe hiểu lời khen thổi phồng – từ Na Sầm tới Bố Củng đâu có xa gì.
Anh bộ đội nói to, cố ý cho người lái xe nghe được. Người lái xe hiểu lời khen thổi phồng – từ Na Sầm tới Bố Củng đâu có xa gì.
Anh bộ đội dán mắt vào tấm lưới
thép, nhìn chằm chằm ra phía trước. Cái nhìn háo hức như của người xa quê đã
lâu nay trở về.
Chen vào anh bộ đội là cặp mắt
đen láy của cô giáo:
- Thế bao giờ mới tới Đông Khê, Thất Khê hở anh?
- Đông Khê còn xa. Phải qua Thất Khê rồi mới đến Đông Khê, cô ạ – anh bộ đội nói - Cô mới đến vùng này à?
Cô giáo gật đầu.
- Ở đây tôi thuộc từng cây số - anh bộ đội nhìn vào mắt người con gái – Hồi trước đơn vị tôi chiến đấu ở đây. Lúc ấy tôi mới vào bộ đội. Từ năm 49 kìa.
Người con gái nghe chăm chú.
- Chắc cô lên đây dạy học?
Cô giáo gật đầu.
- Thế bao giờ mới tới Đông Khê, Thất Khê hở anh?
- Đông Khê còn xa. Phải qua Thất Khê rồi mới đến Đông Khê, cô ạ – anh bộ đội nói - Cô mới đến vùng này à?
Cô giáo gật đầu.
- Ở đây tôi thuộc từng cây số - anh bộ đội nhìn vào mắt người con gái – Hồi trước đơn vị tôi chiến đấu ở đây. Lúc ấy tôi mới vào bộ đội. Từ năm 49 kìa.
Người con gái nghe chăm chú.
- Chắc cô lên đây dạy học?
Cô giáo gật đầu.
Người lái xe vui thấy mình đoán
đúng.
- Thế thì chắc cô đã đọc về chiến dịch biên giới?
- Dạ có, em có đọc.
Anh bộ đội trầm ngâm:
- Nói thật với cô, tôi không tin sách lắm. Nó chẳng nói hết được những chuyện đã xảy ra. Nhà văn nghe chuyện rồi viết, cô ạ, họ không thể biết nó để miêu tả rõ ràng như người trực tiếp tham gia.
Cô giáo không nói gì.
- Thế thì chắc cô đã đọc về chiến dịch biên giới?
- Dạ có, em có đọc.
Anh bộ đội trầm ngâm:
- Nói thật với cô, tôi không tin sách lắm. Nó chẳng nói hết được những chuyện đã xảy ra. Nhà văn nghe chuyện rồi viết, cô ạ, họ không thể biết nó để miêu tả rõ ràng như người trực tiếp tham gia.
Cô giáo không nói gì.
- Đi cùng đơn vị chúng tôi hồi ấy
cũng có một ông nhà văn đi theo đấy. Ông ta được chiều như chiều vong. Bộ đội
lúc bấy giờ thiếu thốn lắm, đừng nói ăn, đến súng đạn cũng chẳng đủ. Chúng tôi
đánh xong rồi, Tây lốc nhốc ra hàng rồi, ông nhà văn mới lò dò ra. Là ở chỗ chúng
mình vừa đi qua đấy.
- Thế a?
- Bố Củng khó. Đánh, hai bên choảng nhau mấy đợt, dữ lắm…
- Thế a?
- Bố Củng khó. Đánh, hai bên choảng nhau mấy đợt, dữ lắm…
Xe lên dốc. Anh bộ đội mất dạng
trong kính chiếu hậu. Anh bị trôi đi và người lái xe chỉ còn nghe loáng thoáng
giọng hào hứng miêu tả trận đánh.
Bà lão ngả đầu vào vai người lái
xe. Anh nhích ra cho khỏi vướng tay lái, đầu bà lão nghiêng theo, đè nặng lên
vai anh, nhưng anh để vậy cho bà lão ngủ.
Nhìn lên kính chiếu hậu, anh thấy
mấy mái đầu chụm lại, cánh tay anh bộ đội thỉnh thoảng lại vung lên. Có vẻ anh
làm động tác ném lựu đạn. Chắc đã là một đồn nào khác, không phải Bố Củng mà họ
vừa bỏ lại.
- Chiếm được đồn rồi, mới thấy
khát khô họng… - xe xuống dốc và người lái xe lại được nghe tiếp câu chuyện –
Cả ngày hò hét, chẳng có giọt nước nào… Một cậu nhảy xuống hầm, thấy cái thùng
để đấy, mới xỉa một nhát lê xem trong là cái gì – rượu phun ra ào ào…Tây nó
đựng rượu trong những cái thùng to, các vị ạ, chúng nó uống rượu như ta uống
nước lã…
- Khiếp cái giống, rượu mà nốc thế thua là phải! – người đàn ông chêm một câu bình phẩm để chứng tỏ mình có mặt.
- Đang cơn khát, cậu ta mới nằm thẳng cẳng cho rượu tung toé vào mặt, vào miệng. Tay ấy, tôi biết, cái khoản rượu là nhất hạng, quỷ khốc thần sầu, không ai bằng. Cu cậu sướng, cứ tì tì, nốc mãi…
- Vô kỷ luật đến thế là cùng! – người đàn ông lắc đầu – Bộ đội gì của ấy.
- Bộ đội thì cũng có người nọ người kia, ông ơi – anh bộ đội nói, giọng có vẻ khó chịu - Người ta đi bộ đội có phải để uống rượu đâu. Đi bộ đội chín phần chết một phần sống đấy, ông ạ.
Người đàn ông đáp, có ý phân trần:
- Nào tôi có phê phán gì đâu. Vấn đề ở đây, tôi muốn nhấn mạnh, là kỷ luật chiến trường…
- Khiếp cái giống, rượu mà nốc thế thua là phải! – người đàn ông chêm một câu bình phẩm để chứng tỏ mình có mặt.
- Đang cơn khát, cậu ta mới nằm thẳng cẳng cho rượu tung toé vào mặt, vào miệng. Tay ấy, tôi biết, cái khoản rượu là nhất hạng, quỷ khốc thần sầu, không ai bằng. Cu cậu sướng, cứ tì tì, nốc mãi…
- Vô kỷ luật đến thế là cùng! – người đàn ông lắc đầu – Bộ đội gì của ấy.
- Bộ đội thì cũng có người nọ người kia, ông ơi – anh bộ đội nói, giọng có vẻ khó chịu - Người ta đi bộ đội có phải để uống rượu đâu. Đi bộ đội chín phần chết một phần sống đấy, ông ạ.
Người đàn ông đáp, có ý phân trần:
- Nào tôi có phê phán gì đâu. Vấn đề ở đây, tôi muốn nhấn mạnh, là kỷ luật chiến trường…
Anh bộ đội xịu mặt, tiếp tục câu
chuyện bỏ dở.
- Quân ta rút lúc nào cũng không hay, cái cậu ấy. Say bí tỉ, không còn biết trời biết đất là gì. Mà là loại ba say không chai đấy nhá! Lúc ấy nhốn nháo lắm, lệnh rút là rút, thương binh thì cõng, tử sĩ thì kéo, không ai để ý người còn người thiếu. Mới lại lúc ấy còn ai mò xuống hầm làm gì cơ chứ.
- Rồi sao, anh? – cô giáo hỏi.
- Còn sao nữa. Tây chiếm lại đồn. Cu cậu vẫn nằm đó, ngáy khò khò. Hì hì. Tây đánh thức mãi mới tỉnh…
- Chết thật! – cô giáo cười nắc nẻ.
- Quân ta rút lúc nào cũng không hay, cái cậu ấy. Say bí tỉ, không còn biết trời biết đất là gì. Mà là loại ba say không chai đấy nhá! Lúc ấy nhốn nháo lắm, lệnh rút là rút, thương binh thì cõng, tử sĩ thì kéo, không ai để ý người còn người thiếu. Mới lại lúc ấy còn ai mò xuống hầm làm gì cơ chứ.
- Rồi sao, anh? – cô giáo hỏi.
- Còn sao nữa. Tây chiếm lại đồn. Cu cậu vẫn nằm đó, ngáy khò khò. Hì hì. Tây đánh thức mãi mới tỉnh…
- Chết thật! – cô giáo cười nắc nẻ.
Người con gái ngồi bên góp
chuyện:
- Sướng nhỉ? Bao nhiêu là rượu! Hôm cưới em mậu dịch bán cho mỗn ba chai theo tiêu chuẩn, mà lại là rượu cà phê.
- Cưới mà chỉ có ba chai thì ai uống ai đừng? – anh bộ đội ngạc nhiên.
Người con gái bụm miệng:
- Chỉ trông vào mậu dịch có mà chết. Còn có rượu lậu chứ. Cưới em hai họ cứ gọi là say bét nhè.
Ông cán bộ huyện, theo anh lái xe đoán, hứ một tiếng:
- Ở đâu mà lắm rượu lậu thế? Không bị bắt à?
- Có mà bắt! – cô gái cười, cái răng vàng lấp lánh – Bắt hết thì bắt cả huyện. Nhà em là xã đội phó đấy, vẫn cứ nấu như thường.
Ông cán bộ huyện cao giọng:
- Chết thật, thế thì còn gì là kỷ cương. Làm cán bộ phải gương mẫu chứ. Đảng viên đi trước làng nước theo sau...
- Sướng nhỉ? Bao nhiêu là rượu! Hôm cưới em mậu dịch bán cho mỗn ba chai theo tiêu chuẩn, mà lại là rượu cà phê.
- Cưới mà chỉ có ba chai thì ai uống ai đừng? – anh bộ đội ngạc nhiên.
Người con gái bụm miệng:
- Chỉ trông vào mậu dịch có mà chết. Còn có rượu lậu chứ. Cưới em hai họ cứ gọi là say bét nhè.
Ông cán bộ huyện, theo anh lái xe đoán, hứ một tiếng:
- Ở đâu mà lắm rượu lậu thế? Không bị bắt à?
- Có mà bắt! – cô gái cười, cái răng vàng lấp lánh – Bắt hết thì bắt cả huyện. Nhà em là xã đội phó đấy, vẫn cứ nấu như thường.
Ông cán bộ huyện cao giọng:
- Chết thật, thế thì còn gì là kỷ cương. Làm cán bộ phải gương mẫu chứ. Đảng viên đi trước làng nước theo sau...
Xe lên dốc. Tiếng động cơ át đi
câu nói tiếp theo của ông cán bộ huyện.
- Thế rồi cái anh bộ đội nát rượu ấy có bị gì không? – cô giáo hỏi.
- Bị chứ. Tây mà nó tha à? Nó tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết. May, rượu nốc đẫy, người nóng bừng bừng, cậu ta mới cởi hết quần áo quẳng đi, trên người chỉ còn mỗn cái quần đùi. Một mực khai là dân công. Tây khờ lắm. Tin. Ờ, mày không phải bộ đội, nó bảo, mày là dân công. Dân công thì đi theo chúng tao, vác đạn.
- Thế rồi cái anh bộ đội nát rượu ấy có bị gì không? – cô giáo hỏi.
- Bị chứ. Tây mà nó tha à? Nó tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết. May, rượu nốc đẫy, người nóng bừng bừng, cậu ta mới cởi hết quần áo quẳng đi, trên người chỉ còn mỗn cái quần đùi. Một mực khai là dân công. Tây khờ lắm. Tin. Ờ, mày không phải bộ đội, nó bảo, mày là dân công. Dân công thì đi theo chúng tao, vác đạn.
- Rồi anh ấy có trốn được không?
- Chứ ở lại với Tây à? Cậu ta rồi cũng thoát được về với đơn vị. Lẽ ra bị kỷ luật đấy, nhưng đại đội trưởng nghe chuyện buồn cười quá, tuyên bố tha. Cũng là tính thêm vào đấy chiến công của cậu ta - phá được một ụ súng, nói phét là trăm linh năm, nhưng anh em biết, làm quái gì có trăm linh năm, đồn ấy chỉ có mấy khẩu đui-xết (mười hai li bẩy) thôi.
- Chứ ở lại với Tây à? Cậu ta rồi cũng thoát được về với đơn vị. Lẽ ra bị kỷ luật đấy, nhưng đại đội trưởng nghe chuyện buồn cười quá, tuyên bố tha. Cũng là tính thêm vào đấy chiến công của cậu ta - phá được một ụ súng, nói phét là trăm linh năm, nhưng anh em biết, làm quái gì có trăm linh năm, đồn ấy chỉ có mấy khẩu đui-xết (mười hai li bẩy) thôi.
Câu chuyện của anh bộ đội làm
người lái xe nhớ đến những năm kháng chiến, khi anh còn là người lính ở miền
đông Nam Bộ. Ở đó anh cũng như anh bộ đội kia, cũng thuộc từng thôn làng, từng
đoạn đường. Ở quê anh cũng thế, những con đường, những cánh đồng cũng có chuyện
của chúng, cũng được kể lại với giọng tự hào thế này.
Tập kết ra Bắc, anh mới học nghề
lái xe. Lịch sử con đường số 4 anh biết lơ mơ. Mỗi cột cây số, mỗi quả núi, mỗi
cánh rừng, mỗi vách đá ven đường đều gắn liền với những sự tích mà anh không
biết.
- Em không biết gì cả. Lúc ấy em
còn bé quá!
Người lái xe nghe rõ câu nói của cô giáo trẻ.
Người lái xe nghe rõ câu nói của cô giáo trẻ.
Anh nhớ đến những đồng đội đã
không còn. Cho đến nay, anh không nghĩ về họ với cảm giác tiếc rẻ trong lòng:
“Giá chúng nó còn sống!” Với anh, trong tâm tưởng họ vẫn sống. Họ chỉ vắng mặt
ít lâu, chỉ xa anh ít lâu, rồi họ sẽ trở về. Nhưng giờ đây, trong lúc này, câu
chuyện của người lính đi nhờ trong thùng xe kia, với cô giáo trẻ đang dỏng tai
nghe anh ta kia, nó làm anh nghĩ tới những người bạn đã chết của mình với cảm
giác quá khứ thực đã qua, họ đã chết thật, và không gì có thể làm cho họ sống
lại.
“Thế là chúng mày không bao giờ
được biết có những đứa bé lớn lên thèm khát cuộc sống của chúng mình ngày xưa!
– người lái xe miên man nghĩ – Nhưng tao chắc chẳng có đứa nào trong chúng ta
mong cho những đứa bé ấy phải sống như chúng ta đã sống. Cuộc sống của chúng ta
là cuộc sống không đáng có. Chiến tranh là cái không đáng có. Chiến tranh giết
chết những con người đáng lẽ được sống”.
- Thế hồi kháng chiến chín năm cô
giáo ở đâu? – anh bộ đội hỏi.
- Em ở Hà Nội.
Khi xe bỏ dốc, tiếng máy dịu đi, người lái xe mới nghe được câu tiếp theo :
- Trước kia gia đình em cũng có thời gian tản cư ra vùng kháng chiến…
Không ai nói gì. Mọi người đều hiểu điều cô không nói tiếp.
- Em ở Hà Nội.
Khi xe bỏ dốc, tiếng máy dịu đi, người lái xe mới nghe được câu tiếp theo :
- Trước kia gia đình em cũng có thời gian tản cư ra vùng kháng chiến…
Không ai nói gì. Mọi người đều hiểu điều cô không nói tiếp.
- Bây giờ cô lên trên này công
tác? – anh bộ đội lúng túng, như thể anh là người gây ra cái yên lặng vừa qua –
Các cô các chị lên vùng cao công tác thật là quý hoá. Trên này thiếu giáo viên
lắm.
Câu nói khách sáo không làm giảm đi bầu không khí nặng nề.
- Anh là người trên này sao?
Cô gái đeo xà cột hỏi. Từ lúc ông cán bộ huyện nói điều gay gắt về rượu lậu, cô không muốn nói gì nữa, cô giận.
- Tôi là dân Quảng Uyên.
- Em ở dưới Quảng Uyên một tí, ở ngay đèo Mã Phục – người con gái nói – Anh cũng người dân tộc à?
- Tôi người Nùng.
Câu nói khách sáo không làm giảm đi bầu không khí nặng nề.
- Anh là người trên này sao?
Cô gái đeo xà cột hỏi. Từ lúc ông cán bộ huyện nói điều gay gắt về rượu lậu, cô không muốn nói gì nữa, cô giận.
- Tôi là dân Quảng Uyên.
- Em ở dưới Quảng Uyên một tí, ở ngay đèo Mã Phục – người con gái nói – Anh cũng người dân tộc à?
- Tôi người Nùng.
Người lái xe thấy đôi mắt đen của
cô giáo đưa đi đưa lại trong gương, vẻ ngạc nhiên không dứt.
Anh muốn nhìn cô mãi trong tư thế này. Nó làm anh nhớ tới người con gái mà anh chỉ có thể thấy lại khi nhìn vào bức ảnh anh mang theo trong hành trang ra Bắc.
Anh muốn nhìn cô mãi trong tư thế này. Nó làm anh nhớ tới người con gái mà anh chỉ có thể thấy lại khi nhìn vào bức ảnh anh mang theo trong hành trang ra Bắc.
Ngày anh ra đi hai người không
hứa hẹn gì với nhau. Cô tặng anh bức ảnh với một hàng chữ ngắn ngủi ở mặt sau.
Thỉnh thoảng anh đọc lại hàng chữ ấy, lúc thì thấy nó thân yêu, lúc lại thấy nó
hờ hững.
- Anh chả phải người Nùng – cô
gái cười, nói – Anh là người Kinh. Nghe anh nói chẳng thấy Nùng tẹo nào.
- Nói dối làm gì. Nùng thật mà.
Cô gái nhổm lên, giọng thách đố, dây xà cột tuột khỏi vai.
- Chả phải. Thế… người Nùng gọi quả đu đủ là gì nào?
- Là ma ca cố chứ còn là cái gì.
Anh bộ đội đáp, mặt xịu.
- Ma ca cố, ma ca cố… - cô gái không thôi cười – Thế mà anh bảo anh người Nùng. Người Nùng đâu có gọi thế.
- Nùng cũng năm bảy thứ Nùng chứ. Thế cô người gì?
- Cũng Nùng lố.
Cô cười ngặt nghẽo.
- Nói dối làm gì. Nùng thật mà.
Cô gái nhổm lên, giọng thách đố, dây xà cột tuột khỏi vai.
- Chả phải. Thế… người Nùng gọi quả đu đủ là gì nào?
- Là ma ca cố chứ còn là cái gì.
Anh bộ đội đáp, mặt xịu.
- Ma ca cố, ma ca cố… - cô gái không thôi cười – Thế mà anh bảo anh người Nùng. Người Nùng đâu có gọi thế.
- Nùng cũng năm bảy thứ Nùng chứ. Thế cô người gì?
- Cũng Nùng lố.
Cô cười ngặt nghẽo.
Lần này anh bộ đội giận thật. Anh
liến thoắng nói với cô bằng tiếng Nùng của anh. Cô đáp lại bằng tiếng Nùng của
cô. Họ hiểu nhau tuốt.
Xe qua đèo. Không khí dịu xuống
giữa hai người. Họ cười với nhau hồn nhiên. Cô giáo ngẩn nghe họ đối đáp. Trước
đó cô nghĩ cả hai đều là người Kinh. Trước khi lên đường cô mường tượng ra
những người ở mạn ngược, họ khác kia, không giống hai người này. Cô không ngờ
lúc này mình đang ngồi bên họ. Người lái xe đoán cô nghĩ thế khi nhìn vào đôi
mắt mở to của cô.
Anh bộ đội chuyển qua tiếng Kinh
lúc nào không biết. Anh kể chuyện một trận đánh khác.
- Mình tưởng chỗ ấy là đất. Mới nhảy đại xuống, thế nào lại rặt cỏ dại mọc um tùm trên đống đá, còn xơi mới đến đất, ngã ngửa một cái chết điếng...
- Mình tưởng chỗ ấy là đất. Mới nhảy đại xuống, thế nào lại rặt cỏ dại mọc um tùm trên đống đá, còn xơi mới đến đất, ngã ngửa một cái chết điếng...
Người lái xe nghe chuyện, quên
bẵng cái bực bội khi ngồi vào ca bin. Đáng lẽ hôm nay là ngày nghỉ đầu tiên của
anh bù cho mấy chủ nhật tháng trước phải làm. Anh đã báo cho mấy người bạn ở Hà
Nội rằng anh sẽ về bù khú với họ, đã hình dung mấy bữa nhậu có khô bò, gà xé
phay… với mấy chai rượu ngô anh giấu kỹ dưới gầm ghế. Thế mà rồi lại phải đi.
Lúc nào cũng đột xuất và đột xuất. Mà đột xuất gì cơ chứ – vẻn vẹn mấy bao tải
muối vét kho.
Xe lại đi vào đoạn đường xấu, xóc
nảy người. Cánh cửa trái lại ca bài ca muôn thuở “tành tành – tành tành tành –
tành tành”.
Cô gái đeo xà cột hoá ra là một
cán bộ phụ nữ huyện. Hoá ra cô cũng có chuyện về đường số 4 để mà kể.
Cô từng đi dân công theo bộ đội
đánh Đông Khê. “Lúc ấy em bé lắm, gầy lắm, chị ạ - cô nói với cô giáo – Như con
mèo ấy”. Anh bộ đội hỏi tên những đơn vị mà cô biết hoặc còn nhớ, thỉnh thoảng
lại “a” lên một tiếng, cứ như thể họ nhận ra nhau là người quen khi nhắc tới
một phiên hiệu nào đó.
Cô cán bộ phụ nữ nói nhanh, cười
giòn, hay chêm vào câu nói hai chữ “tưởng bở” vô nghĩa không biết học được khi
nào. “Dân công đi rầm rập, chết cũng nhiều lố. Chiến lợi phẩm nhiều, gánh kìn
kìn, như đi hội ấy. Tây trắng Tây đen bị giải đi hàng xâu, lũ lượt, tưởng bở,
lốc nhốc hàng đàn. Sao mà chúng nó lắm râu thế không biết, lông cũng lắm, như
khỉ ấy, tưởng bở!
Anh bộ đội cười tít mắt.
Anh bộ đội cười tít mắt.
Đường xấu làm bà lão tỉnh giấc,
ngơ ngác nhìn ra con đường phía trước, rồi ý tứ ngồi dịch ra để khỏi vướng tay
lái. Nhưng cái cánh cửa rung bần bật làm bà sợ. Bà sợ một lúc nào đó nó sẽ bung
ra và bà sẽ văng xuống đường.
Anh bộ đội nói với cô giáo: “Cô
lên cái chốn khỉ ho, cò gáy, trâu gõ mõ, chó leo thang, mèo làm chủ tịch này là
dũng cảm lắm đấy”.
Cô giáo cười, nhưng người lái xe biết đàng sau nụ cười cố gắng là nỗi lo lắng được che giấu.
- Mèo sao làm chủ tịch được, anh ơi?
Anh bộ đội cười to:
- Là nói người Mèo cơ, cô ạ, không phải con mèo.
Cô giáo cười, nhưng người lái xe biết đàng sau nụ cười cố gắng là nỗi lo lắng được che giấu.
- Mèo sao làm chủ tịch được, anh ơi?
Anh bộ đội cười to:
- Là nói người Mèo cơ, cô ạ, không phải con mèo.
Có tiếng đập khe khẽ vào tấm lưới
thép. Thoạt đầu, người lái xe tưởng đó là do đường xóc, nhưng rồi anh nghe rõ đó
tiếng đập của một bàn tay ngập ngừng.
Người lái xe không quay lại. Xe
đang ở một khúc ngoặt bên thung lũng sâu hun hút.
Đàng sau anh, cô giáo thì thầm:
- Anh lái ơi, anh lái…
Tiếp theo là giọng khẩn khoản của anh bộ đội:
- Đồng chí chiếu cố tụi tôi tí nhá…
Người lái xe không ngoảnh lại:
- Chiếu cố gì cơ?
- Hai cô muốn được thăm nghĩa trang liệt sĩ. Nhân tiện, có nhang mang theo. Cô này có người chị đi dân công hy sinh ở đây…
Đàng sau anh, cô giáo thì thầm:
- Anh lái ơi, anh lái…
Tiếp theo là giọng khẩn khoản của anh bộ đội:
- Đồng chí chiếu cố tụi tôi tí nhá…
Người lái xe không ngoảnh lại:
- Chiếu cố gì cơ?
- Hai cô muốn được thăm nghĩa trang liệt sĩ. Nhân tiện, có nhang mang theo. Cô này có người chị đi dân công hy sinh ở đây…
Giọng ngập ngừng, anh bộ đội nói
thay hai người con gái, nhưng lại ngại người lái xe cho rằng mình dựa vào các
cô để nói lời nhờ vả, anh nói thêm:
- Tôi cũng có đánh ở đây đấy, đồng chí ạ. Đánh Bông Lau không phải chỉ có một trận, chúng nó giữ chặt lắm. Có mấy cậu bạn tôi hy sinh…
- Tôi cũng có đánh ở đây đấy, đồng chí ạ. Đánh Bông Lau không phải chỉ có một trận, chúng nó giữ chặt lắm. Có mấy cậu bạn tôi hy sinh…
Người lái xe nhìn đồng hồ cây số.
Cứ thế này xe anh sẽ đến chậm. Các xe khác đi sớm, anh vét kho, đi sau rốt. Lại
còn lằng nhằng với mấy người đi nhờ nữa.
Nhưng khi nhìn thấy cổng nghĩa trang quét vôi trắng hiện ra trên sườn đồi trước mặt, anh nhấn ga cho xe đi mau hơn rồi kéo phanh tay cho nó dừng hẳn trước những bậc lên xuống.
Nhưng khi nhìn thấy cổng nghĩa trang quét vôi trắng hiện ra trên sườn đồi trước mặt, anh nhấn ga cho xe đi mau hơn rồi kéo phanh tay cho nó dừng hẳn trước những bậc lên xuống.
Không ngoảnh lại anh cũng biết
mấy người ở đàng sau thở phào.
Anh vớ cái khăn tay đen nhẻm lau mặt, đỡ bà lão bước xuống.
Anh vớ cái khăn tay đen nhẻm lau mặt, đỡ bà lão bước xuống.
Bây giờ anh mới nhìn rõ những
người bạn đồng hành của mình. Cô giáo có nước da trắng, ở đôi gò má của khuôn
mặt bầu bĩnh có những tia máu hồng li ti. Nếu cô không có nước da trắng như
thế, cô có thể là một cô gái miệt vườn quê anh. Anh bộ đội trông nhỏ đi. Nhiều
lần lưng anh bộ đội che lấp mọi người trong gương làm người lái xe có cảm giác
anh cao lớn. Còn cô gái Nùng thì đẹp hơn trước rất nhiều vì đôi mắt long lanh
dưới vành chiếc khăn chàm vừa quấn vội lên đầu.
Họ leo lên đồi. Bà lão đi từng
bước nặng nhọc theo hai cô gái cố ý đi chậm lại đợi bà.
Cô giáo bước rất nhẹ, như sợ làm thức giấc những người nằm dưới mộ. Nghĩa trang lặng lẽ đến nỗi tiếng gió làm những ngọn cỏ lau đập vào nhau nghe cũng rõ. Người lái xe nghe những tiếng xào xạc và nhớ đến một khúc hát anh được nghe trong những ngày đầu tiên chạy trên đường này: « Thất khê ề ê, Vệ quốc quân xông pha à a... Vẳng nghe thấy tiếng súng trong sương mù...» Anh không nhớ bài hát đó. Anh chỉ nhớ vài câu.
Cô giáo bước rất nhẹ, như sợ làm thức giấc những người nằm dưới mộ. Nghĩa trang lặng lẽ đến nỗi tiếng gió làm những ngọn cỏ lau đập vào nhau nghe cũng rõ. Người lái xe nghe những tiếng xào xạc và nhớ đến một khúc hát anh được nghe trong những ngày đầu tiên chạy trên đường này: « Thất khê ề ê, Vệ quốc quân xông pha à a... Vẳng nghe thấy tiếng súng trong sương mù...» Anh không nhớ bài hát đó. Anh chỉ nhớ vài câu.
Anh bộ đội dừng lại lần thứ hai ở
mỗi tấm bia liệt sĩ, lẩm nhẩm đọc những hàng chữ khắc chìm vào xi-măng và tô
bằng mực đen. Người lái xe đến gần và đọc theo anh bộ đội :
Cung Văn Trăng
Trần Văn Phúc
Sầm Văn Pèng
Trần Văn Phúc
Sầm Văn Pèng
Ở cái bia tiếp theo trong số
những tấm bia có tên người, chỉ có vẻn vẹn một hàng chữ “Liệt sĩ Điền”.
Anh bộ đội tần ngần trước những
hàng mộ chí. Anh không tìm thấy những tên quen. Dưới những nấm mồ không tên
kia, ai là bạn anh ?
Người lái xe nhìn những tấm bia
nằm yên lặng, buồn rầu nghĩ đến những nấm mồ bạn bè anh trong Nam.
Bà lão lấy mấy thẻ hương cô gái
Nùng mang theo. Người lái xe thường gặp những bao hương giấy đỏ loại này ở chợ
Đồng Xuân, ở những gánh hàng rong góc phố hàng Đường Hà Nội, bao giờ cũng đặt
bên những bông hoa không có lá. Bà lão mượn người lái xe bao diêm và nhờ cô
giáo châm. Khi bà lão xòe những que hương thành hình nan quạt và vẫy tay làm
tắt ngọn lửa, một làn khói đặc và nặng chậm chạp bay lên. Một ngọn gió đón lấy,
làm nó tan ra thành một làn khói mờ và mỏng.
Không biết có phải vì khói tạt
vào mặt không, nhưng anh lái xe thấy cay nơi mắt.
Bà lão chia những thẻ hương ra và
lần lượt cắm trên những nấm mộ liệt sĩ. Khi bà lùi lại, đưa hai tay lên vái thì
mọi người đã theo chân cô giáo đứng về phía sau.
Người lái xe yên lặng nhìn mọi
người. Anh thấy một giọt nước mắt nhỏ xíu lăn trên má cô giáo.
Sau lưng anh, cô giáo thì thầm
hỏi cô bạn đường:
- Chị có thấy mộ người chị không?
Không thấy cô người Nùng trả lời.
- Chị có thấy mộ người chị không?
Không thấy cô người Nùng trả lời.
Ông cán bộ huyện bảo:
- Tôi xuống đây được rồi. Đi bộ chỉ một quãng.
Người lái xe không nói gì. Họ chia tay không lưu luyến.
- Tôi xuống đây được rồi. Đi bộ chỉ một quãng.
Người lái xe không nói gì. Họ chia tay không lưu luyến.
*
* *
* *
Xe đến một con dốc tiếp theo, bà
lão nói với người lái xe :
- Tôi được cả thảy ba cháu trai, thì hai cháu hy sinh trong kháng chiến. Cháu thứ ba công tác trên này. Nó vừa đánh điện cho tôi lên coi vợ nó ốm. Vợ nó có mang được năm tháng. Tội nghiệp cháu, nó yếu lắm, sẩy hai lần rồi, bác ạ. Tôi khấn các anh bộ đội phù hộ cho cháu. Sống khôn chết thiêng, phải không bác?
Anh lái xe gật gật đầu để bà lão hiểu anh cũng nghĩ như bà..
- Tôi được cả thảy ba cháu trai, thì hai cháu hy sinh trong kháng chiến. Cháu thứ ba công tác trên này. Nó vừa đánh điện cho tôi lên coi vợ nó ốm. Vợ nó có mang được năm tháng. Tội nghiệp cháu, nó yếu lắm, sẩy hai lần rồi, bác ạ. Tôi khấn các anh bộ đội phù hộ cho cháu. Sống khôn chết thiêng, phải không bác?
Anh lái xe gật gật đầu để bà lão hiểu anh cũng nghĩ như bà..
Khi xe lên gần hết dốc, người lái
xe bỗng ngửi thấy một mùi thơm nhẹ phảng phất. Không phải mùi hoa rừng. Đó là
mùi hương trầm. Mùi hương do bà lão vừa châm. Một trận gió lớn chợt đến đã đưa
làn khói thơm ấy từ nghĩa trang bay đi và đuổi kịp chiếc xe.
Bà lão cũng ngửi thấy mùi hương.
Người lái xe thấy cánh mũi bà lão phập phồng. Rồi bà rùng mình, chớp chớp mắt
và từ từ ngả đầu vào thành sau. Có lẽ bà lão sắp ngủ. Người lái xe hãm bớt tốc
độ cho bà lão đỡ bị xóc. Một lát sau, anh biết anh lầm. Bà lão không ngủ, tuy
mắt bà nhắm nghiền.
Xe chạy từ từ xuống dốc. Môi bà
lão khẽ động đậy và người lái xe nghe thấy bà lẩm bẩm khấn những liệt sĩ trên
đèo phù hộ cho con bà.
Đường số Bốn chạy dài trước mặt…
(In
trên tuần báo « Văn học » của Hội Nhà văn – Số 151 – ra ngày Thứ Sáu 16-6-1961,
được sửa lại theo bản thảo vừa tìm thấy)
https://www.facebook.com/vuthuhien.paris/posts/1783392771900717
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét