Nguyễn Trung
I. Nhìn lại thế giới hôm qua
Trước chiến tranh thế giới II là
những cường quốc lớn tranh giành nhau các thuộc địa trong sự suy tàn của một số
đế quốc lâu đời như Anh, Hà Lan, Pháp… Nổi lên là 3 cường quốc mới Đức, Ý và
Nhật muốn phân chia lại quyền lực trên thế giới và đã gây ra chiến tranh thế
giới II.
Sau chiến tranh thế giới II, thắng
lợi to lớn của Liên Xô chống chủ phát xít Đức, Nhật đã dẫn tới sự ra đời của hệ
thống thế giới xã hội chủ nghĩa. Trên thế giới hình thành một trật tự mới. Quan
điểm chính thức của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu (thể hiện trong
các văn kiện chính trị chính thức của các nước xã hội chủ nghĩa) gọi đấy là
trật tự quốc tế của một thế giới 2 phe 4 mâu thuẫn:
– 2 phe: Một bên là phe xã hội chủ
nghĩa, một bên là phe đế quốc; và
– 4 mâu thuẫn: (1) mâu thuẫn giữa
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc; (2) mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và
phong trào giải phóng dân tộc. (3) mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai
cấp tư bản trong lòng các nươc đế quốc; (4) mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với
nhau.
Từ khi chiến tranh thế giới II kết
thúc, cho đến khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô sụp đổ sau những
biến động suốt thời kỳ 1989-1991 (bắt đầu từ sụp đổ bức tường Berlin cho đến
khi Liên Xô tan rã), thế giới rơi vào cục diện chiến tranh lạnh. Đây là hình
thái thể hiện tập trung nhất sự tranh giành quyền lực giữa một bên là Liên Xô
với tất cả các tập hợp lực lượng có thể có được dưới lá cờ của chủ nghĩa xã hội
– chủ nghĩa cộng sản, và một bên là Mỹ, với tất cả tập hợp lực lượng dưới lá cờ
tự do dân chủ và chống cộng. Ý thức hệ của mỗi bên không chỉ đơn thuần là những
giá trị tinh thần, mà còn là một loại quyền lực chính trị chi phối sâu sắc sự
phát triển của mỗi bên và các nước liên quan, tác động vào mọi vận động trên
thế giới.
Cả hai tập hợp lực lượng này ra sức
phát huy ảnh hưởng của mình vào thế giới thứ 3 – đó là phong trào giành độc lập
dân tộc của các nước thuộc địa và bán thuộc địa, phong trào cộng sản và công
nhân trên thế giới. Sự tranh giành quyền lực này trở thành yếu tố quyết định
nhất chi phối toàn diện mọi diễn biến trên thế giới; mọi mặt trận chính giành
giật nhau giữa hai “phe” này diễn ra chủ yếu trên trận địa nước bên thứ ba.
Nguyên nhân quan trọng nhất của thực tế này (chiến tranh lạnh) là cả Liên Xô và
Mỹ đều hiểu sâu sắc: với tiềm năng quân sự cả hai bên có trong tay, đụng độ
trực diện sẽ đồng nghĩa với tự huỷ diệt lẫn nhau. Vì thế, bằng mọi cách làm suy
yếu hay khuất phục đối phương từ mọi ngả – mọi ngách thứ 3 là chiến lược cả
Liên Xô và Mỹ đều lựa chọn.
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh lạnh này
còn chứa đựng một cuộc đụng độ khác, trực tiếp, toàn diện trên tất cả các mặt
trận kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội – ngoại trừ đối đầu quân sự trực tiếp.
Tính đối kháng của đụng độ này rất quyết liệt. Phe xã hội chủ nghĩa ý thức sâu
sắc thực tế này và đã chủ động đề xướng cuộc chạy đua ai thắng ai? (Who –
whom?) – giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, với niềm tin khẳng định:
Xu thế tất yếu của loài người là tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Trong ba thập kỷ đầu tiên của phe xã
hội chủ nghĩa, trả lời câu hỏi ai thắng ai? là nội dung trung tâm chi phối mọi
hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng của tất cả
các nước xã hội chủ nghĩa. Riêng Liên Xô và Cộng Hoà Dân Chủ Đức còn là hai
nước đi tiên phong trong xây dựng lý luận phát triển, mở rộng và sáng tạo những
quan điểm mới của chủ nghĩa Mác – Lênin cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm bảo
đảm giành toàn thắng trong cuộc đấu tranh ai thắng ai? này trên phạm vi thế
giới. Hồi ấy, đi xa nhất về phương diện nghiên cứu lý luận là CHDCĐức, với các
thuyết về xây dựng “dân tộc Đức xã hội chủ chủ nghĩa”, “nhà nước Đức xã hội chủ
nghĩa”, tại Liên Xô có học thuyết Brejnev…
Những nỗ lực quan trọng nói trên về
mặt lý luận còn nhằm giải quyết (a) những tác động của hiện tượng đảng Cộng Sản
Nam Tư do Jojip Broz Tito lãnh đạo đã không chấp nhận đường lối và sự lãnh đạo
của Liên xô, dẫn tới việc Stalin năm 1948 khai trừ Nam Tư khỏi phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, và (b) xử lý những mâu thuẫn nan giải ngày càng lớn
trong nội trị các nước xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Trên thực tế, mặc dù có những ký kết
hợp tác quan trọng của một liên minh chặt chẽ – điển hình là Hiệp ước Hữu nghị
– Hợp tác – Tương trợ ký 1955 tại Varsovie, hình thành khối quân sự do Liên Xô
dẫn đầu; song trong suốt thời kỳ tồn tại của mình phe xã hội chủ nghĩa vì những
khó khăn kinh tế và nội trị bên trong đã không thể tạo ra được cho mình sự phát
triển ổn định:
1956 đã xảy ra vụ nổi dậy chống lại
chế độ XHCN ở Hungarie (trước đó, 1949, đã xảy ra vụ nổi dậy ở Đông Berlin do
Liên Xô kiểm soát), Bắc Triều Tiên ngay sau khi chiến tranh chấm dứt
(1950-1953) từ đầu thập kỷ 1960s đã thoát ly phe xã hội chủ nghĩa với thuyết
chủ thể của Kim Nhật Thành, từ những năm 1960s Rumani và Albani ngày càng tách
rời Liên Xô để đi với Trung Quốc, 1968 xảy ra vụ nổi dậy mang tên gọi mùa xuân
Praha phải đưa quân đội khối Varsovie vào trấn áp, từ cuối những năm 1970s trở
đi xuất hiện phong trào công đoàn đoàn kết ở Ba Lan. Tiếp theo là những biến
động ngày càng gia tăng ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong thập
kỷ 1980s – với cú hích là sự sụp đổ của bức tường Berlin ngày 09-11-1989 – đã
dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị của các nước XHCN Đông Âu. Và cuối cùng là
những biến động và đổ vỡ liên tiếp tại Liên Xô bắt đầu từ triều đại Brejnev (từ
1964 – 1982) – chủ yếu do kinh tế kiệt quệ bởi những lỗi hệ thống (mặc dù Liên
Xô là cường quốc khoa học nghiêng ngửa với Mỹ), chạy đua vũ trang quá đà, tê
liệt trong chiến tranh Afghanistan, vụ Chernobyl, sự chia rẽ giữa các nước
trong Liên bang Xô viết, Glasnot thất bại vì tình thế tai biến của Liên Xô đã
quá trầm trọng… Tình hình này đã dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô 11-1991 – trong
sự ngỡ ngàng của Mỹ và phương Tây.
Đấy là sụp đổ của chủ nghĩa xã hội:
kinh tế kế hoạch hoá với quốc doanh là chủ đạo; chế độ chính trị toàn trị dựa
trên chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp; quốc sách xoá bỏ sở hữu tư nhân
và các quyền tự do dân chủ của công dân; quốc nạn quan liêu tham nhũng tàn phá
kinh tế và các giá trị đạo đức xã hội, đoàn kết dân tộc và động lực phát triển
của đất nước bị huỷ hoại.
Với sự tự sụp đổ như vậy của chính
mình, phe XHCN thất bại hoàn toàn trong cuộc đấu tranh ai thắng ai? này.
Khi thành lập năm 1949, Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Hoa về danh nghĩa đứng trong phe xã hội chủ nghĩa, song chưa bao
giờ phục tùng Liên Xô. Tháng 6-1966 Mao đã phát động phong trào cách mạng văn
hoá, công khai tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô ở phạm vi quốc tế. Qua thông
cáo chung Thượng Hải 1972, Trung Quốc chuyển sang đi với Mỹ chống Liên Xô, quay
lưng lại với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. 1975 Trung Quốc dấy lên
vấn đề Khmer đỏ, mở ra mặt trận phía Nam chống Việt Nam; 02-1979 tiến hành
chiến tranh biên giới phía Bắc chống Việt Nam. Cách mạng văn hoá thất bại, với
đổi mới 1976 “mèo trắng cũng như mèo đen, miễn là bắt được chuột” do Đặng Tiểu
bình khởi xướng, Trung Quốc trên thực tế đã chính thức vứt bỏ cái danh (ngọn
cờ) chủ nghĩa xã hội theo nghĩa truyền thống của chủ nghĩa Marx, công khai thực
hiện khát vọng thực của mình là chủ nghĩa Đại Hán dưới cái tên gọi “chủ nghĩa
xã hội đặc sắc Trung Quốc”.
Phong trào giành lại độc lập dân tộc
của các nước thuộc địa và bán thuộc địa được hưởng lợi từ phong trào đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc nở rộ sau chiến tranh thế giới II, được sự hậu thuẫn
rất lớn của phe XHCN, trước hết là Liên Xô. Đã xuất hiện nhiều phong trào cánh
tả mạnh mẽ tại những quốc gia này. Chủ nghĩa mao-ít cũng một thời thâm nhập và
lũng đoạn phong trào này. Song trừ trường hợp Cuba lựa chọn con đường của chủ
nghĩa xã hội, hầu hết các nước thuộc địa và bán thuộc địa còn lại cuối cùng đã
lựa chọn con đường của chủ nghĩa tư bản (đương nhiên Cuba sau Fidel Castro sẽ
là câu chuyện khác), từ cuối 1960s thế giới hầu như không còn nước thuộc địa.
Nói cách khác, trên trận địa của phong trào độc lập dân tộc, cuối cùng phe xã
hội chủ nghĩa cũng bị đẩy lùi hẳn. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế mai
một dần trước sự phát triển trong lòng các nước công nghiệp phát triển, và ngày
nay không còn ảnh hưởng gì đáng kể.
(Song trên thế giới đến hôm nay còn
một trào lưu có tên gọi là “quốc tế xã hội chủ nghĩa” – Socialist International
– của các đảng Dân chủ Xã hội, có nhiều đảng trong những thời kỳ nhất định đã
thắng cử và cầm quyền ở nhiều nước công nghiệp phát triển, sẽ bàn vào một dịp
khác).
Nếu nói rằng chủ nghĩa cộng sản /
chủ nghĩa xã hội – với tiền thân của nó là phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân thế giới hình thành từ cuối thế kỷ 18 – đã bị đẩy lùi trên phạm vi
toàn thế giới, hay là nói nó đã làm xong vai trò lịch sử của nó – cả 2 cách nói
này đều đúng với sự thật.
Lịch sử không có chữ nếu và không
thể làm lại được, vì vậy nên nhìn nhận phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
cũng như sự xuất hiện một thời của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa là một
sản phẩm tất yếu của lịch sử. Sự ra đời – vận động – rút khỏi sân khấu thế giới
của sản phẩm tất yếu này do sự vận động khách quan của lịch sử tạo ra và quyết
định. Không phải ngẫu nhiên cả Marx và Engels đã không dưới một lần nhắc lại
một triết lý của các bậc tiền bối trước họ: “Tự do là phải hiểu lẽ tất yếu!”
Với cách nhìn như vậy, có thể xem phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và
sự xuất hiện một thời của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa trước hết như là
một nỗ lực của một bộ phận tinh hoa nhân loại muốn tìm ra một alternative tốt
hơn cho thế giới vào lúc bắt đầu thời kỳ công nghiệp hoá đầy máu và nước mắt ở
giai đoạn ấy. Còn sự tha hoá của khái niệm và của con người trong nỗ lực này là
sản phẩm phái sinh – sản phẩm sau này.
Hiển nhiên suốt chiều dài của lịch
sử, trong cộng đồng nhân loại luôn luôn có những bộ phận tinh hoa vươn lên phía
trước như thế. Nói khái quát hơn nữa, sự tiến bộ của xã hội loài người trong
suốt chiều dài lịch sử của nó là kết quả thành/bại của những nỗ lực nối tiếp
nhau không ngừng nghỉ của con người, để đi tìm và tạo ra alternative / những
alternatives (giải pháp, kịch bản thay thế cái đang diễn ra) hướng về phía
trước cho cuộc sống đương đại, luôn luôn tìm cách vượt lên thực tế hiện hữu để
khai phá con đường mưu cầu tự do và hạnh phúc. Đêm dài thời trung cổ (từ thế kỷ
5 đến thế kỷ 15) là thời kỳ đau khổ dài nhất của nhân loại cho đến khi nó được
thay thế bởi thời kỳ khai sáng (một alternative khác). Ngày nay, tiến bộ của
văn minh nhân loại giúp con người ngày càng nhiều trí tuệ làm chủ tốt hơn cuộc
sống của mình và làm chủ thế giới, có nhiều khả năng hơn trong việc nhìn nhận
thực tại và phía trước, nhất là để xây dựng các ước mơ – qua xây dựng các
alternatives. Chủ nghĩa xã hội từng là một alternative, một ước mơ như thế.
Song nếu coi những ước mơ / những alternatives này là quy luật tất yếu khách
quan, thì đấy lại là ngộ nhận và duy tâm, sẽ vỡ mộng chắc chắn cũng là tất yếu
khách quan.
Trong cuộc chiến tranh lạnh sau
chiến thế giới II, cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam là cuộc chiến tranh
nóng lớn nhất, kéo dài nhất và đẫm máu nhất sau chiến tranh thế giới II, mật độ
sử dụng bom đạn vượt chiến tranh thế giới II. Mục tiêu chiến lược của cuộc
chiến tranh Việt Nam là đẩy lùi và bao vây chủ nghĩa cộng sản. Cuộc kháng chiến
của Việt Nam chống Mỹ xâm lược gánh trên lưng nó cuộc đối đầu trực diện giữa
hai phe của thế giới với tất cả sự quyết liệt của nó.
Hơn thế nữa, trong lòng cuộc chiến
tranh Việt Nam còn chứa đựng những cuộc chiến tranh khác, báo chí thế giới hồi
ấy gọi đấy là các cuộc chiến tranh qua tay người khác (proxy wars), bóc trần
chính sách “Trung Quốc toạ sơn quan hổ đấu, quyết đánh Mỹ đến người Việt Nam
cuối cùng”… vân vân…
Hôm nay, bình tĩnh nhìn lại phải nói
tách bạch ra cuộc kháng chiến của Việt Nam chống Mỹ xâm lược mang trong lòng
nó:
1. Cuộc kháng chiến của nhân dân
Việt Nam chống ngoại xâm.
2. Cuộc chiến tranh trên đất Việt
Nam của chủ nghĩa đế quốc chống chủ nghĩa xã hội.
3. Cuộc chiến của Mỹ chống Liên Xô
trên đất Việt Nam.
4. Cuộc chiến của Trung Quốc trên
đất Việt Nam chống Mỹ – với mục tiêu đẩy vòng vây của Mỹ ra xa biên giới Trung
Quốc tới mức có thể.
5. Cuộc chiến của Trung Quốc trên
đất Việt Nam chống Liên Xô.
6. Cuộc chiến của Liên Xô trên đất
Việt Nam nhằm tranh giành ảnh hưởng thế giới chống Trung Quốc.
7. Và vô cùng đau lòng, đây còn là
cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử nước ta giữa hai miền Bắc – Nam[2].
Có thể xem cuộc chiến tranh Việt Nam
là một ví dụ tiêu biểu rất kinh điển (classic) về cái giá nước bên thứ ba phải
trả cho sự giằng xé nhau giữa các cường quốc. Trong trường hợp của mình, cái
giá Việt Nam phải trả vô cùng đắt! Chết nhắm mắt không nguôi! Nhưng không phải
để hận thù, mà để hiểu thấu nỗi đau của đất nước mình là nạn nhân đau thương
nhất của cuộc chiến tranh lạnh này, tích tụ bản lĩnh và trí tuệ nhìn về phía
trước.
Xin đừng bao giờ quên: Vận mệnh đất
nước ta trong thời kỳ này bị các cường quốc bán đứng cho nhau không dưới một
lần. Cuộc chiến tranh này để lại cho đất nước ta những hệ quả tai ác đến hôm
nay vẫn chưa sao thoát ra được! Hễ là người Việt Nam, nhất thiết phải đời đời
không được quên cái giá đã phải trả này, để tất cả với ý chí tổ quốc trên hết,
để tất cả với hoà giải và đoàn kết dân tộc cùng nhau từ nay trở đi luôn luôn
phải giành bằng được quyền làm chủ vận mệnh đất nước mình, bất kỳ cái thế giới
này xoay vần ra sao! Muốn sống thì phải như vậy. Đến hôm nay vẫn hoàn toàn chưa
học được như vậy – (chủ đề này xin được bàn vào một dịp khác).
Sau chiến tranh thế giới II, (1) sự
phát triển vũ bão của kinh tế thế giới là nguyên nhân quyết định nhất thay đổi
sâu sắc sự vận động của các mối quan hệ kinh tế trên thế giới. Quá trình toàn
cầu hoá kinh tế thế giới đi vào giai đoạn phát triển mới. (2) Đồng thời, với sự
xuất hiện của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc của thế giới
thứ 3, chế độ thuộc địa hầu như không còn nữa. Đây là 2 yếu tố quan trọng nhất
tạo ra bước tiến triển mới của văn minh nhân loại hôm nay: Thế giới hôm nay là
thế giới của các quốc gia độc lập có chủ quyền; hệ thống thế giới XHCN không
còn tồn tại; đồng thời chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, và chủ nghĩa thực
dân mới cũng đều bị xoá sổ.
Dù trải qua những bước thăng trầm,
song nhìn chung các nước đang phát triển (còn được gọi là các nước phương Nam,
là thế giới thứ 3) ngày càng giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế, đã trở
thành những tập hợp lực lượng quan trọng trong một số vấn đề nhất định của thế
giới. Tuy nhiên, ngoài một số rất ít các quốc gia trở thành NICs, phần lớn các
nước còn lại trong thế giới thứ 3 vẫn là thành phần chịu nhiều thua thiệt nhất
trong quá trình toàn cầu hoá của kinh tế thế giới, một số không nhỏ các quốc
gia vẫn đang ở trong trạng thái chậm phát triển.
Với sự sụp đổ của phe xã hội chủ
nghĩa, chiến tranh lạnh I kết thúc, mở ra thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Toàn
cầu hoá kinh tế thế giới đi vào thời kỳ phát triển bùng nổ nhất cho đến nay,
tiếp tục thay đổi sâu sắc bản đồ kinh tế thế giới và sự vận hành của nó suốt ¼
thế kỷ vừa qua, các khung khổ và thể chế quốc tế và khu vực ngày càng trở nên
bất cập trước sự phát triển này.
Thực tế khách quan nêu trên một mặt
làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp mới trong lòng mỗi quốc gia cũng như giữa
các quốc gia với nhau ở phạm vi các cộng đồng, các khu vực và quốc tế – nguyên
nhân chủ yếu là: sự phát triển không đồng đều; những khác biệt mới do các
khoảng cách phát triển, khoảng cách giầu/nghèo và khoảng cách thu nhập gây ra;
ngày càng nhiều thách thức mới truyền thống và phi truyền thống – đặc biệt là
những vấn đề: IS & nạn khủng bố, biến đổi khí hậu, quyền sở hữu trí tuệ bị
xâm phạm, di chuyển lao động, vấn đề di cư…
Trong khi đó mặt khác kinh tế tri
thức và cách mạng cộng nghiệp 4.0 trở thành động lực quyết định của phát triển,
làm cho kinh tế thế giới ngày càng vận động như một thị trường lớn đồng nhất,
điểm nổi bật là kinh tế của hầu hết mọi quốc gia trên toàn thế giới đều vận
hành trên nền tảng của kinh tế thị trường với các nấc thang phát triển khác
nhau. Đấy là nền kinh tế vận động *theo sự tương tác của các mối quan hệ giữa
cầu và cung (demand and supply), *thừa nhận quyền sở hữu cá nhân, *tự do thương
mại.
Một số nước hôm nay tự coi mình là
XHCN (Trung Quốc, Việt Nam, Cuba…), thực ra đây chỉ là cách gọi theo tính chất
của chế độ chính trị, nền kinh tế của những quốc gia này thực tế vẫn là các nền
kinh tế thị trường ở các mức độ như: kinh tế thị trường hoang dã, kinh tế thị
trường kém phát triển, kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony
capitalism). .; hiện nay cả Việt Nam và Trung quốc đang vận động thế giới thừa
nhận kinh tế của mình là kinh tế thị trường mà chưa được.
Chính sự phát triển năng động nói
trên đã sản sinh ra những khái niệm mới như thế giới phẳng (T. Friedman), sự
cáo chung của lịch sử (F. Fukuyama) [3]. Thực ra thế giới hôm nay ngày càng
nhiều khác biệt mới, những mâu thuẫn và thách thức mới, song lại vận động trên
nền tảng thống nhất của kinh tế thị trường ở giai đoạn toàn cầu hoá phát triển
cao nhất đến nay.
Hiển nhiên, ngày nay các quốc gia
trên thế giới phân chia thành thành 3 loại: Các nước phát triển, các nước đang
phát triển, các nước chậm phát triển. Sự phân chia theo ý thức hệ như “nước tư
bản chủ nghĩa”, “nước xã hội chủ nghĩa” không còn thích hợp. Đây không chỉ là
vấn đề từ ngữ, mà là thế giới đã chuyển sang một thời kỳ phát triển khác, *với
sự kết thúc của một lối tư duy và hành động theo ý thức hệ tồn tại từ sau chiến
tranh thế giới II đến nay, *với sự phá sản của mọi thứ “chủ nghĩa” đi kèm, *để
hôm nay vận động trong những mối quan hệ tương tác của phân hoá/tập hợp lực
lượng theo lợi ích mới[4].
II. Sự thai nghén quá trình thế giới
sang trang hôm nay
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế mang
lại cơ hội phát triển năng động cho mọi quốc gia, song tự nó không phải là bữa
tiệc win – win hay free lunch cho mọi người, luôn làm nảy sinh những bất bình
đẳng mới, mâu thuẫn mới (nghĩa là không “phẳng” như T Friedman nghĩ), do đó làm
xuất hiện nhiều vấn đề mới trong địa kinh tế và địa chính trị toàn cầu, dẫn tới
phân hoá và tập hợp lực lượng mới ở mọi khu vực. Sự phát triển này hôm nay đang
khơi ra chiến tranh lạnh lần thứ hai, đang bắt đầu dấy lên cuộc chạy đua vũ
trang mới toàn cầu.
1. Sự xuất hiện những nhân tố mới
Từng chu kỳ, kinh tế thế giới có
những cuộc khủng hoảng lớn. Song nhìn chung cả chiều dài thời gian từ sau chiến
tranh thế giới II đến nay, có thể nói đây là thời kỳ kinh tế thế giới phát
triển năng động nhất so với trước đó. Đặc biệt là từ khi phe XHCN sụp đổ, quá
trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới đi vào một thời kỳ bùng nổ. Tuy nhiên ngay
cả trong thời kỳ này, các số liệu thống kê của Liên hiệp quốc, của các thể chế
lớn như WB, IMF, ADB… đều cho thấy hiện tượng xuyên xuốt là khoảng cách thu
nhập giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển hơn tiếp tục ngày càng
rộng. Trong lòng mỗi quốc gia cũng cho thấy: hiện tượng bất bình đẳng này ngày
càng lớn. Đây chính là nguyên nhân đầu tiên của những mất ổn định mới và những
vấn đề nảy sinh mới trong quá trình phát triển của mỗi nước cũng như trong toàn
bộ quá trình toàn cầu hoá ở nấc thang mới hiện nay[5].
Quan sát kinh tế thế giới, từ thập
kỷ 1980s trở đi không thấy xuất hiện thêm một nước mới công nghiệp hoá (NIC)
nào khác ngoài những NICs mọi người đã biết trước đó. Khoảng cách Bắc – Nam
tiếp tục rộng ra, xuất hiện những bất bình đẳng mới khác thường, ngày càng
nhiều vấn đề mới nan giải giữa phát triển và tăng trưởng, v… v…
Dưới đây xin nêu một số hiện tượng
nổi bật qua sự phát triển của một số quốc gia để minh chứng.
Trước khi bước vào đổi mới thời Đặng
Tiểu Bình 1976, Trung Quốc có nền kinh tế với quy mô đứng ngoài tốp 50 các nước
trên thế giới. Năm nay (2016), nghĩa là sau 4 thập kỷ, quy mô nền kinh tế Trung
Quốc đã vươn lên đứng thứ 2 sau Mỹ, dự kiến sẽ vượt Mỹ vào năm 2025. Song sự
phát triển kinh tế ở Trung Quốc có thể được xem là sự phát triển chứa đựng bên
trong những bất công điển hình nhất, bao gồm các nấc phát triển từ hoang dã /
dã man nhất (trong đó có cả sử dụng lao động trong tù, buôn bán nội tạng, vơ
vét tài nguyên bên ngoài, sự can thiệp quyết liệt của chính trị, tệ nạn tham nhũng,
gian trá tiền tệ, ăn cắp bản quyền, sử dụng chất độc hại, tàn phá môi trường…)
cho đến nấc phát triển hiện đại nhất. Khoảng cách thu nhập giầu/nghèo trong
lòng quốc gia này cũng lớn hơn so sánh với hầu hết các nước khác trên thế giới…
Dù biện bạch thế nào, quốc gia này hiện có khoảng 20 trong số 100 tỷ phú hàng
đầu thế giới, trở thành chủ nợ lớn nhất thế giới, trong đó Mỹ là con nợ lớn
nhất. Trung Quốc khai thác triệt để lợi thế là thị trường tất cả các nước công
nghiệp phát triển đều cần. Sự vơ vét tài nguyên và lợi nhuận trên thế giới của
Trung Quốc được đánh giá là vượt xa chủ nghĩa thực dân mới một thời của phương
Tây. Hiện nay Trung Quốc đang giữ thế thượng phong trong khối BRICS (Brasil,
Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi) chiếm ¼ GDP toàn cầu, chủ xướng ra Ngân hàng
Phát triển hạ tầng Châu Á (AIIB), đồng tiền Nhân dân tệ từ 01-10-2016 chính
thức được đưa vào giỏ các đồng tiền tạo ra SDR (các đơn vị tiền tính bằng quyền
rút vốn đặc biệt – SDR) của IMF; từ nhiều năm nay đang ráo riết xúc tiến chiến lược
bành trướng kinh tế một vành đai – một con đường (one belt – one road) mong tái
lập lại huyền thoại con đường tơ lụa. Ngay sau khi Trump trong tranh cử tuyên
bố sẽ rút khỏi TTP, tại hội nghị cấp cao APEC họp ở Peru 11-2016 Tập Cận Bình
vồ luôn: Trung Quốc sẽ là cơ hội cho cả thế giới, sẵn sàng thành lập cộng đồng
kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương thay thế… Trong khi đó quyền lực mềm của Trung
Quốc tiếp tục vươn xa ở châu Mỹ Latinh (thường được coi là sân sau của Mỹ) và
châu Phi. Ngày 24-12-2016, giữa lúc cả thế giới chú ý vào lễ giáng sinh, tuần
dương hạm Liêu Ninh cùng với 7 chiến hạm khác của Trung Quốc lần đầu tiên xuất
hiện trên vùng biển Hoa Đông, (một hình thức “đáp lại” ngay tức khắc những gì
Trump thắng cử đã nói về Trung Quốc và vấn đề Đài Loan). Trên thế giới có không
ít ý kiến nhắc lại cảnh báo xưa của Napoleon về con sư tử ngủ Trung Quốc và lời
thú nhận của Nixon về một Frankenstein Trung Quốc, đồng thời cảnh báo tiếp: Cái
Barbaric đang thắng cái Civilization (một tiếng nói tương tự như trong cuốn
sách “Death by China’” của Navarro & Autry) !
Thế giới đang chứng kiến một Trung
Quốc ngày càng táo tợn, sẵn sàng lấp mọi chỗ trống, đặt ra những vấn đề mới về
địa chính trị và địa kinh tế toàn cầu, đang lặp lại chào mời với Mỹ chia đôi
Thái Bình Dương, trở thành một cực ngày càng mạnh mà thế giới chưa biết kiềm
chế như thế nào.
Nước Nga của Putin đã ra khỏi thập
kỷ chịu đựng những đổ vỡ ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, trong đó giá dầu cao ở
thập kỷ tiếp theo đã giúp Nga phục hồi đáng kể. Ngày nay Nga đã lấy lại được vị
thế cường quốc quân sự (chỉ sau Mỹ về phương diện vũ khí hiện đại). Hiện nay,
một mặt do khát vọng phục hồi đế chế Nga – một đòi hỏi như một lẽ tất yếu để
tồn tại trong tình thế một số nước thành viên trong Cộng đồng các quốc gia độc
lập (CIS) [6] vẫn muốn ly khai tiếp sự lãnh đạo của Nga. Trong khi đó các nước
thuộc Liên Xô cũ không tham gia CIS và các nước XHCN Đông Âu cũ tiếp tục có
thái độ đi hẳn với phương Tây, chống hoặc ngờ vực Nga – điển hình là vấn đề
Ukraina. Mặt khác, do NATO ngày càng tập trung mũi nhọn vào Nga, buộc Nga phải
tìm mọi cách từng bước lấy lại vị thế toàn cầu của mình. Việc Nga chiếm Crimea
và tham chiến quyết liệt tại Syrie để bảo vệ đồng minh duy nhất của mình có thể
xem là phản ứng mang tính sống còn. Hệ quả: Nga phải chịu những đòn nặng nề của
cấm vận từ Mỹ và EU, lại trong tình hình những năm gần đây giá dầu rớt liên tục
nên càng nguy khốn. Phương Tây có không ít dự báo nước Nga Putin sẽ sụp đổ.
Nhưng Nga đã trụ lại được – chủ yếu nhờ thu nhập từ nguồn tài nguyên bao la của
mình, sức mạnh quân sự có trong tay và chịu khắc khổ. Nhưng đặc biệt quan trọng
là Putin đã quyết đoán dốc toàn lực chơi sát ván ở Syrie. Việc chiếm lại Aleppo
từ phe đối lập đã giúp Nga đảo ngược được cuộc chơi, giữ được chế độ Assad, đẩy
lùi phe đối lập nhưng không chú trọng chống IS, khẳng định được vai trò không
thể thiếu của Nga ở Trung Đông và toàn cầu. Tinh thần dân tộc ở Nga đã được dấy
lên để hậu thuẫn những bước đi quyết liệt này của Putin. Nga hiện nay vẫn còn
nhiều khó khăn trong nước vì tiềm lực hạn chế, nhưng gần đây nhất số phiếu thăm
dò tín nhiệm Putin vẫn tăng cao. Nga đã có những ký kết lớn hợp tác với Trung
Quốc – trước hết trên phương diện kinh tế (400 tỷ USD cho những năm tới), chủ
động xúc tiến quan hệ Nga – Thổ – Iran cho các vấn đề ở Trung Đông không có Mỹ
(Nga cố tình loại Mỹ để tạo thế mặc cả với Mỹ). Tuy nhiên có thể nói đây là
những cuộc hôn nhân bất đắc dỹ, vì mỗi bên có những lợi ích riêng không dung
hoà được, có không ít các yếu tố khiến mỗi bên có thể trở thành mối nguy của
nhau hoặc phá bỏ liên minh.
Nắm bắt được rất sớm tình hình bầu
cử ở Mỹ và chủ trương tìm kiếm một triển vọng chiến lược khác, ngay từ đầu
Putin đã chủ động tỏ thiện chí với Trump, tập trung đả kích Obama / H. Clinton.
Muốn hay không, vẫn phải thừa nhận sự can thiệp của Nga đã tác động nhất định
vào bầu cử ở Mỹ, chống H. Clinton và có lợi cho Trump (cyber hack nếu có sẽ chỉ
là một bộ phận của sự can thiệp này). Hiển nhiên Nga đã chủ động mở ra khả năng
mới hợp tác Nga – Mỹ và được Trump hưởng ứng. Đây là sự gặp nhạu của 2 cách
nhìn khác thường; trong khi đó không thấy Nga có những bước đi gì đặc biệt với
Trung Quốc. Dù lâm vào tình huống còn khó khăn nhiều bề, song báo chí Mỹ thừa
nhận nước Nga Putin đã lấy lại phần nào vị thế Liên Xô cũ. Nghĩa là: Những tính
toán của Putin đến đây đã thắng những tính toán của Obama, giành lại được thế
chủ động về ngoại giao với tất cả các nước hữu quan – nổi bật là việc Nga cùng
với Thổ vừa qua đã thực hiện được ngừng bắn ở Syrie và gạt được Mỹ sang một
bên.
Mặc dù thế của Nga được cải thiện,
nhưng sau chiến dịch Aleppo toàn bộ những vấn đề nóng bỏng ở Trung Đông / Bắc
Phi – trước hết là các cuộc chiến tranh sắc tộc, vấn đề IS và vấn đề di cư –
vẫn còn nguyên vẹn. Một số phát biểu của nhóm cố vấn Trump cho thấy có những dấu
hiện Trump và Putin đang có những tính toán với nhau về những vấn đề của khu
vực này.
Kinh tế Ấn Độ năm 2000 có quy mô xếp
thứ 13 thế giới; năm 2016 đã vượt Anh, trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế
giới. Sự phát triển này vấp phải sự canh tranh quyết liệt của Trung Quốc. Trong
khi đó vấn đề biên giới giữa 2 nước vẫn tiếp tục nóng bỏng, việc Pakistan đi
với Trung Quốc giữ thái độ thù địch với Ấn Độ càng làm cho tình hình phức tạp.
Đối phó với uy hiếp này, Ấn Độ quyết tăng cường sức mạnh quân sự của mình, mặt
khác đang cùng với Nhật và Úc cố vận động sự tham gia của Việt Nam để hình
thành một tứ giác hợp tác và phòng vệ trong khu vực.
Suốt hai thập kỷ nay các nước ASEAN
nhìn chung vẫn giữ được sự phát triển và tăng trưởng kinh tế ổn định, là một
cộng đồng kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao so với mọi khu vực khác trên thế
giới, tự do hoá kinh tế trong nội nhóm ASEAN đạt những tiến bộ quan trọng theo
hướng trở thành một thị trường thống nhất. Tuy nhiên tính cố kết của ASEAN còn
đứng rất xa sự trông đợi của các nước thành viên. ASEAN có 2 điểm yếu nhất là
(a) hợp tác kinh tế chưa mang lại được cho các nước thành viên sự gắn kết cần
thiết, (b) chưa trở thành chỗ dựa của nhau về an ninh và chưa tao ra được sức
mạnh chung của ASEAN cho an ninh của khu vực. 8 năm thời Obama sự có mặt của Mỹ
trong khu vực không đủ cân bằng lại sự lấn tới quyết liệt của Trung Quốc, hệ
quả là Trung Quốc đã bành trướng được một hệ thống các căn cứ quân sự xây trên
các đảo lấn chiếm ở đây. Với sự phân hoá tiếp tục trong ASEAN trước sự lũng
đoạn của Trung Quốc, đặc biệt là với hiện tượng Duterte, có thể nói Trung Quốc
đã lấn át đáng kể ảnh hưởng của Mỹ tại đây, quyền lực mềm và rắn của Trung Quốc
lũng đoạn ngày càng sâu hơn vào các nước trong khu vực. Phải chăng ASEAN đang
đứng trước (hay đúng hơn là đã bước vào) thời kỳ khủng hoảng về an ninh trước
sự uy hiếp và can thiệp ngày càng tăng của Trung Quốc? Nếu tình hình khu vực
nóng lên, có thể nguy cơ phân rã sẽ ngày càng lớn? Trước mắt, COC trong tình
hình hiện nay đang trở nên xa vời, hoặc giả sử nếu ký kết được thì cũng chỉ có
thể là một COC biến dạng (đánh lừa mọi người) không có thực chất. Trong tình
thế khu vực và toàn cầu như vậy, Việt Nam là nước dễ bị chấn thương nhất, trên
một số phương diện có lẽ còn mong manh hơn thời kỳ 1979 – 1989.
2. Đã xuất hiện sự suy yếu chung
tương đối của phương Tây trước sự bành trướng toàn cầu của Trung Quốc, vì hai
lý do căn bản:
(a) Hệ thống kinh tế – chính trị của
phương Tây bộc lộ những bất cập mới, những vấn đề mới chưa có lời giải trước
những bước phát triển và thách thức mới của kinh tế trong quá trình toàn cầu
hoá hiện nay, đang đi vào một thời kỳ khủng hoảng của nhiều vấn đề mới chưa có
tiền lệ; cũng có thể nói đây là thời kỳ khủng hoảng tất yếu trong quá trình
phát triển, thúc đẩy những quốc gia này phải tìm phương thức vận động mới, các
giải pháp mới, tìm con đường mới. Có thể coi đây là sự suy yếu chung tương đối
của phương Tây trong quá trình phát triển – nói thế hoàn toàn không có nghĩa là
ngày nay Trung Quốc đã mạnh hơn phương Tây.
(b) Sự phát triển của Trung Quốc
mang tính chất quyết liệt gần như bằng mọi giá. Với triết lý mục tiêu biện minh
cho biện pháp, với những lợi thế của kinh tế quy mô (economies of scales) của
một quốc gia trên 1,3 tỷ dân và còn đang tăng nữa, Trung Quốc đang tận dụng và
phát huy hết mức những khả năng cả xấu và tốt văn hoá Trung Quốc có thể đem lại
– nghĩa là không từ giá nào – để giành mọi lợi thế so sánh có thể trong toàn
cầu hoá, khai thác triệt để mọi khoảng trống hoặc khuyết tật không thể tránh
được của toàn cầu hoá, đánh thẳng vào nhu cầu của đám đông ở mọi nơi hoặc lòng
tham cố hữu của con người ở phạm vi toàn cầu để trục lợi lớn. Tất cả cho phục
vụ khát vọng bá vương. Nói ngắn gọn, đấy là: Sự xuất hiện thô bạo của một cường
quốc có nền kinh tế đông dân nhất thế giới với đặc sắc Trung Hoa thời hiện đại
(“đặc sắc” được hiểu theo tư duy của Lỗ Tấn), thế giới chưa biết kiềm chế thế
nào. (Xin lưu ý cho, trong lịch sử, sự xuất hiện của một cường quốc mới luôn
luôn là thô bạo – no pardon! – với thế giới chung quanh!)
Dưới đây xin nêu thêm một số nét về
sự phát triển của phương Tây để làm rõ nhận đinh này.
– Quan sát ¼ thế kỷ gần đây nhất –
thời kỳ phát triển bùng nổ nhất của toàn cầu hoá kinh tế thế giới kể từ sau
chiến tranh thế giới II) – người ta cũng thấy khoảng cách thu nhập giầu/nghèo
bên trong các nước phát triển vẫn tiếp tục gia tăng một cách nhạy cảm (Spence,
Piketty). Ngay tại Mỹ, năm 2008 khi Obama lên cầm quyền, có 30 triệu người phải
sống nhờ vào chế độ cấp tem phiếu thực phẩm (một loại trợ cấp tiền bằng phiếu
cho những người có thu nhập thấp chỉ được dùng để mua một số thực phẩm nhu yếu
nhất định), con số này năm 2016 là 46 triệu; cùng thời gian này nợ quốc gia của
Mỹ từ 10 nghìn tỷ USD lên tới con số 19 nghìn tỷ USD – tương đương 100% GDP
hiện nay của Mỹ; quá trình outsourcing 20 năm qua đã xoá xổ khoảng 70 nghìn
doanh nghiệp Mỹ với sự xáo trộn xã hội nghiêm trọng vì số việc làm khổng lồ bị
mất đi. Cùng với hiện tượng này là khoảng 15 triệu người mới nhập cư vào Mỹ với
tất cả những xáo trộn mới trong kinh tế, văn hoá, xã hội… Ở Mỹ đã có những
ngành nghề mất hẳn, thậm chí có một số ngành nghề hay công việc ngày nay chỉ có
những lao động nhập cư thực hiện, tới mức: không có số lao động nhập cư này
kinh tế Mỹ sẽ ách tắc hoặc khó tồn tại. Mỹ thừa nhận đã bị tụt hậu so với một
số nước phát triển nhất về giáo dục, bảo hiểm y tế, phát triển kết cấu hạ tầng…
Ở các mức độ khác nhau, hầu hết các nước phương Tây đều có những vấn đề nan
giải tương tự.
– Brexit là ví dụ điển hình của nguy
cơ phân rã trong các tập hợp kinh tế đa phương hoặc khu vực, cụ thể ở đây là
EU. Đương nhiên EU với đồng Euro đã mang lại nhiều thành tựu lớn cho châu Âu kể
từ khi ra đời, song mặt trái của tấm huân chương có không ít vấn đề nan giải.
Nguyên nhân cụ thể của Brexit là Anh không thể chấp nhận sự phát triển năng
động của mình bị trói buộc vào một thể chế chung của EU được xây dựng trên
không ít những nguyên tắc đồng thuận cồng kềnh. Những người ở Anh khởi xướng
Brexit nói thẳng: Không thể đem lao động năng động và sáng tạo của Anh nuôi báo
cô một số nước thành viên EU có năng suất lao động kém hẳn, càng không được cột
đồng bảng Anh vào Euro, không được biến kinh tế Anh chỉ là một toa tầu sau cái
đầu tầu Đức, thời buổi ngày nay không thể chấp nhận thể chế vận hành đầy quan
liêu của EU và quốc hội EU… Ngay tại Đức, sự phản đối EU và đồng Euro cũng ngày
càng tăng, vì người dân không muốn tiền đóng thuế của mình phải cõng những gánh
nặng của EU – nhất là vấn đề nợ của Hy Lạp; đã xuất hiện đảng “Một phương án
khác cho nước Đức” (the Alternative for Germany, đảng AFD) với một cương lĩnh
ly khai EU…
– Tại hầu hết các nước Tây Âu khác
là thành viên EU cũng có những hiện tượng tương tự như Brexit, với các lý do cụ
thể riêng biệt của từng nước. Marine Le Pen ở Pháp là nhân vật tiêu biểu cho xu
thế này của các nước Tây Âu. Bà ta đã nói thẳng thừng các bức bối của Pháp và
đang cổ vũ cho Frexit! Le Pen cũng không thể chấp nhận vị thế Pháp đứng sau Đức
và Anh, đòi xoá bỏ Euro để lập lại con rắn tiền tệ nhằm lấy lại vị thế đồng
Franc, coi Nga có những mối quan hệ tương đồng về văn hoá và lịch sử với Pháp
do đó phản đối việc NATO chống Nga… Với những quan điểm kỳ thị chủng tộc, Le
Pen kịch liệt chống vấn đề nhập cư, đặc biệt là chống Merkel trong vấn đề này.
Trong giới quá khích của những nước này ít nhiều xuất hiện các hiện tượng gọi
là mối nguy mầu nâu (die braune Gefahr) – mối nguy của chủ nghĩa phát xít mới
và mang tính bài Do Thái, (đang xuất hiện cả ở Đức và Nga và một số nước
khác…). Nhiều nước thành viên EU không tán thành việc kết nạp thổ vào khối này
vì những nỗi lo về đạo Hồi…
Không phải vô lý tại tất cả các nước
phương Tây, kể cả ở Mỹ, đã có những ý kiến phê phán toàn bộ hiện tượng này là
biểu hiện suy đồi của dân chủ và các giá trị đạo đức. Song trên thực tế không
bao giờ có thể có một cộng đồng nào hoàn hảo và những giải pháp nào vừa lòng
được mọi bên, sự không đồng đều giữa các thành viên về phát triển là đương
nhiên. Cùng với thời gian hoặc trước một bước ngoặt, những bất đồng khó hàn gắn
xuất hiện là tất yếu.
– Hầu hết các nước phương Tây, nói chuẩn
xác hơn là giới kinh doanh của những quốc gia này, đều bị lợi nhuận kiếm được
trong làm ăn với Trung Quốc quyến rũ, tha hoá; có những trường hợp họ đã trở
thành con tin, đẩy nhiều chuẩn mực của đạo đức chính trị và những nguyên tắc
quốc gia của nước họ xuống hàng thứ yếu (outsourcing của Mỹ và nhiều nước Tây
Âu bằng mọi giá vào Trung Quốc là một ví dụ, hôm nay đang phải trả giá). Thị
trường Trung Quốc ngày càng trở nên không thể thiếu được đối với tất cả những
quốc gia này, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giầu/nghèo ngay trong lòng những quốc
gia này, kèm theo không ít những hậu quả khó xử lý cho kinh tế và nội trị của
họ. Chưa nói đến không ít những chính sách, biện pháp không thể thắng nổi những
quy luật của kinh tế – ví dụ như các biện pháp bảo hộ hay phòng vệ đối phó với
những tác động của hàng hoá giá rẻ, lao động rẻ, các dòng chẩy rất nhạy cảm của
tiền tệ… Thực tế này đã tác động nghiêm trọng nhiều năm chính sách của các nước
phương Tây. Ví dụ: Tình hình nghiêm trọng tới mức sẽ là không sai nếu nói rằng
trong Brexit có cả những nguyên nhân Trung Quốc – chỉ cần quan sát chuyến đi
thăm Anh vừa qua của Tập Cận Bình và những ký kết đạt được để có thể nhận ra
điều này. Tại nhiều nước công nghiệp khác cũng vậy – có lẽ ngoại trừ Nhật, Hàn
Quốc?
– Trong khi đó về phía Trung Quốc,
những gì người dân phải gánh chịu cho quá trình mở cửa này, kể cả vấn đề môi
trường bị huỷ hoại, bóc lột lao động thậm tệ… hầu như không phải là vấn đề đối
với quốc gia khổng lồ này. Ngày nay, sự phụ thuộc của các nước phương Tây vào Trung
Quốc không nhỏ, khả năng Trung Quốc trả đũa họ khi tình hình đòi hỏi không phải
là dễ kiểm soát.
– …
– …
Tới đây có thể kết luận: (1) Các
bước đi mới của Trung Quốc và Nga trên bàn cờ thế giới, (2) hiện tượng bài toán
IS của thế giới và nhiều thách thức phi truyền thống khác đến nay chưa có lời
giải, (3) xu thế thoái lui do suy yếu tương đối của phương Tây, (4) tất cả
những hiện tượng vừa nêu trên lại đang diễn ra trong bối cảnh mọi quốc gia trên
thế giới phải đối mặt với những thách thức mới của kinh tế thế giới đi vào thời
kỳ phát triển mới với cuộc cách mạng cộng nghiệp 4.0 và những đòi hỏi mới của
quá trình toàn cầu hoá ở giai đoạn hiện nay – đấy là 4 nguyên nhân chính chuyển
thế giới sang trang mới, với những năm tháng quyết liệt phía trước.
Chưa thể nói trước thời kỳ biến động
này của sự chuyển giai đoạn kéo dài bao lâu trước khi thế giới có thể định hình
được giai đoạn phát triển mới của nó.
Tất cả các nước đối mặt với một thế
giới đang bước vào thời kỳ đầy biến động, nổi lên là những vấn đề:
(1) kinh tế và quá trình toàn cầu
hoá có nhiều khó khăn và thách thức mới – bao gồm cả vấn đề biến đổi khí hậu và
những vấn đề phi truyền thống khác,
(2) cục diện chiến tranh lạnh mới
đang làm xuất hiện ngày càng nhiều điểm nóng, những vấn đề nóng, đẩy thế giới
ngấp nghé chiến tranh lớn (tình trạng brinkmanship), trong đó có khu vực biển
Hoa Đông và Biển Đông,
(3) xuất hiện ở nhiều quốc gia khủng
hoảng về đối sách; trong quan hệ với nhau nhiều nước đang có xu thế quay về lo
cho chính mình tước đã, thiên về giải quyết vấn đề bằng sức mạnh (“hoà bình
bằng sức mạnh”),
(4) sự phân hoá và tập hợp lực lượng
mới trong từng khu vực cũng như ở phạm vi toàn cầu đang làm thay đổi, thậm chí
gây rối loạn hoặc đảo ngược nhiều quốc sách và các bước đi hiện có của mỗi quốc
gia, nhiều nước lúng túng chưa có đối sách.
Sẽ là sai lầm chết người nếu nhìn
bước sang trang đầy biến động này của thế giới chỉ bằng con mắt ý thức hệ hay
giáo lý dưới bất kỳ hình thức nào – ví dụ gọi đấy là khủng hoảng và giẫy chết
của chủ nghĩa tư bản, là sự khẳng định cái tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã
hội, hay đơn giản coi đây là hiện tượng của thời đại suy đồi đạo đức, đổ lỗi
mọi khó khăn của nước mình cho bối cảnh thế giới, v… v… Cách nghĩ đầy cảm tính
này chỉ đưa tới những mối nguy mới.
Đúng hơn, những biến động kể trên
đánh dấu bước ngoặt của thế giới đi vào một thời kỳ vận động mới trước những
mới lạ và bất cập tất yếu so với nhận thức và khả năng thích nghi hiện có của
con người và các quốc gia. Không có quốc gia nào lựa chọn được thế giới, mà chỉ
có tất cả các quốc gia đều đứng trước đòi hỏi phải hiểu đúng sự vận động này
của thế giới để lo quyết sách của mình: Khôn sống, dại chết!
3. Suy nghĩ về những khả năng lựa
chọn của Mỹ và tác động đối với thế giới
Khi Obama thắng cử nhiệm kỳ I với
khẩu hiệu “Change! Yes we can!”, nước Mỹ và thế giới đã thưởng cho không ít lời
ca ngợi hào phóng. Kinh tế Mỹ thời Obama là một thành tựu rõ rệt. Trong thời kỳ
này nước Mỹ có nền kinh tế phát triển ổn định hơn cả so với hầu hết các nước
phát triển khác. Tuy vậy trong tranh cử, Trump đã phơi ra trước thế giới một
nước Mỹ khác. Nước Mỹ của thoái lui (retreat) trên nhiều phương diện. Nói chuẩn
xác: thành tựu kinh tế 8 năm thời Obama không đủ để chặn đứng thoái lui.
Chính quyền Obama không phải là tác
giả của tình trạng thoái lui này, mà chỉ là người kế thừa và tiếp nó. Tình
trạng thoái lui này – xuất hiện chí ít từ thời Bush; nhất là cuộc chiến tranh
Iraq đã bào mòn sinh lực Mỹ và mang lại cho Trung quốc cơ hội vàng trỗi dậy như
hôm nay. Như Trump dẫn chứng trong tranh cử: Lối mòn nước Mỹ đang đi hôm nay
đang duy trì sự thoái lui này một cách nguy hiểm. Nước Mỹ tiếp tục ngày càng
nhỏ đi so với các thách thức trong/ngoài ngày càng lớn và phức tạp nó phải đối
mặt[7].
Trump tranh cử đã đặt lên bàn nghị
sự của nước Mỹ một loạt vấn đề chiến lược mang tính chất
– đoạn tuyệt lối mòn, tìm con đường
khác, làm theo cách khác, xắp xếp cuộc chơi khác;
– đòi hỏi trong mọi việc phải là
“America first!” (nước Mỹ trước hết!), “peace through strength” (hoà bình bằng
sức mạnh) ;
– tất cả nhằm mục tiêu chiến lược
chấm dứt tình trạng thoái lui, làm nước Mỹ hùng mạnh trở lại!
Tính chất sang trang của thế giới
hôm nay đặc biệt quyết liệt là ở những điểm nêu trên. Đánh dấu bước ngoặt có
liên quan đến hầu hết mọi quốc gia. Quyết liệt đến mức hơn một nửa nước Mỹ bỏ
phiếu cho H Clinton – xin nói một cách hình ảnh như vậy – cho đến hôm nay vẫn
không muốn tiêu hoá hoặc chưa tiêu hoá nổi, nhiều người vẫn tiếp tục xỉ vả
Trump. Còn thế giới thì sững sờ trước sự thật như đinh đóng cột “Thời khắc của
bước ngoặt đã điểm và không đảo ngược được nữa!”, lúng túng, hồi hộp, cân nhắc,
có một số ít đã nhạy bén quyết đi theo xu thế của cuộc chơi mới.
Nét nổi bật thứ nhất thời Trump có
thể sẽ là “America first!”, nghĩa là làm gì đi nữa nước Mỹ sẽ phải là trước
hết, sẽ ít đi những thứ chiếu cố lợi ích chung hay tập thể, ưu đãi, bố thí… Sẽ
xem lại NAFTA và đóng góp của các nước thành viên NATO. Sẽ cạnh tranh sẽ quyết
liệt hơn. Muốn hưởng cái gì từ Mỹ sẽ không có miễn phí. Thậm chí có thể quên
đi/bỏ qua đối tác nếu không đáp ứng “America first!”… Sẽ có không ít trường hợp
nguyên tắc “America first!” bị coi là vô đạo đức, như Trump đã nói toạc ra: TTP
không cần đối với Mỹ, Nga chiếm Crimea không phải là cái mắc mớ đối với hợp tác
Mỹ – Nga sắp tới, coi việc Mỹ của Obama bỏ phiếu trắng nhờ đó HĐBA đã thông qua
được nghị quyết đòi Israel chấm dứt xây dựng trên đất Palestine là không chấp
nhận được, vân vân… Với “America first!” sẽ không có chuyện Mỹ làm sen-đầm
(gendarmerie) quốc tế – mọi thứ đều phải trả tiền, càng không có chuyện làm
sen-đầm hiệp sỹ…
Nét nổi bật thứ hai là “Peace
through strength” (hoà bình bằng sức mạnh – theo cách nghĩ của Roosevelt,
Reagan, tham khảo thêm bài 3), được hiểu là loại bỏ những chuyện đạo lý / pháp
lý lằng nhằng lôi thôi, cái gì cần làm và có thể thì dùng sức mạnh. Rõ nét nhất
là những phê phán của Trump về cách làm ăn của Trung Quốc đối với Mỹ, nói ra
những điều trừng phạt mà có người lo có thể xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ –
Trung… Trump phê phán cái trục xoay là nửa vời và gần như là chết yểu thời
Obama, những gì chính quyền này đã làm trên thực tế là vô hiệu hoá nó; dùng TTP
để bọc (contain) Trung Quốc là chuyện hão huyền; nước Mỹ tôn trọng một Trung
Quốc nhưng không thể trói buộc Mỹ vào quy định này… Trump chủ trương tăng cường
lực lượng hải quân Mỹ lên 350 tầu chiến (hiện nay là 274) để đối phó với Trung
Quốc đẩy mạnh vũ trang và để bảo vệ tuyến hàng hải Malacca… Đương nhiên còn
phải chờ Trump nói thế nhưng sẽ làm được tới đâu, nhưng trước mắt người ta thấy
cuộc điện đàm mấy phút của Trump với Thái Anh Văn có lẽ khiến Trung Quốc đau
đầu hơn những gì mà cái trục xoay của H Clinton đã làm trong nhiều năm tháng.
Một bóng dáng khác của hiện tượng
“peace through strength” là nội các đang được thành lập của Trump gồm khá đông
các tỷ phú và các tướng quân sự diều hâu. Ngay tại Mỹ không ít ý kiến lo lắng
gọi đấy là một dạng nội các thân hữu (a crony cabinet) chưa hề có trong lịch sử
nước Mỹ, đặt câu hỏi: Trump quyết đoán, hay là liều mạng? Thành công hay thất
bại gần như là 50/50!
Dưới đây xin nêu lên một suy nghĩ về
bộ 3 Mỹ – Nga – Trung trong bức tranh thế giới hôm nay.
Những gì đã nói ra lời và việc bố
trí nhân sự đến nay cho thấy chiều hướng Trump muốn cải thiện quan hệ với Nga –
bao gồm cả việc kéo Nga ra xa Trung Quốc, để dồn nỗ lực ứng xử cứng rắn với
Trung Quốc. Lý do có thể là:
– Nga đang có nhu cầu cải thiện quan
hệ với Mỹ để giữ được thế mạnh đã lấy lại được và tìm đường sớm ra khỏi những
khó khăn nhiều mặt hiện nay.
– Mỹ có nhiều lợi thế để thoả hiệp
đi tới hợp tác với Nga trong chia nhau ảnh hưởng ở Trung Đông, qua đó có thể
cùng với Nga kiềm chế Thổ và Iran, đồng thời tìm cách san bớt gánh nặng của Mỹ
ở Trung Đông cho Nga. Khả năng này là hiện thực đối với cả Mỹ và Nga, nhất là
trong bối cảnh hiện nay Nga cần ưu tiên củng cố vị thế mới giành được ở Trung
Đông vừa qua và cần đẩy mạnh đòi giải toả cấm vận, hơn là phân tán lực của mình
cho bành trướng ảnh hưởng tại những nơi khác.
Như vậy là có sự gặp nhau giữa hai
bên ở thời điểm này.
– Nếu hợp tác Mỹ – Nga được tạo ra
như vừa trình bầy, căng thẳng hiện nay giữa NATO và Nga sẽ giảm bớt, điều mà cả
Trump và Putin đều muốn, cả hai đã công khai ngỏ ý sẵn sàng cho triển vọng này.
Giả định nếu hợp tác này phát triển xa nữa, chi phối bàn cờ thế giới trong tình
huống nào đó sẽ không hẳn chủ yếu là do quan hệ Mỹ – Trung chi phối, mà có thể
sẽ là do cuộc cờ tay 3 Mỹ – Nga – Trung; trong trường hợp này thế giới có thể
sẽ dễ thở hơn đối với Frankenstein Trung Quốc. Nỗ lực của Trump theo hướng này
hợp với logic và có lý về nhiều mặt – cả trên phương diện Nga có văn hoá gần
gũi với phương Tây.
Đương nhiên, trong cuộc đấu tay 3
như thế, một khi một bên đổi cách chơi với một bên khác trong cỗ máy bộ 3 này,
các nước bên thứ ba hữu quan sẽ có những việc phải vắt chân lên cổ mà chạy nếu
như không tự tại sẵn cho mình khả năng dĩ bất biến ứng vạn biến. Đây cũng sẽ là
vấn đề trực tiếp liên quan đến vận mệnh của Việt Nam.
– Trung Quốc đang gây tổn hại lớn
cho kinh tế Mỹ, đã tạo ra chỗ đứng khó đảo ngược trên Biển Đông, uy hiếp nặng
nề các nước trong vùng (một phần còn do phản ứng của các nước trong vùng quá
yếu), đang muốn lấn nữa lên biển Hoa Đông, lâu dài muốn uy hiếp hay kiểm soát
con đường hàng hải Malacca. Thời gian đang ủng hộ Trung Quốc đi theo hướng này
nếu Mỹ cứ tiếp tục ngập ngừng như những năm qua. Trung Quốc hiện nay có thể ăn
miếng trả miếng nhất định với Mỹ, chủ yếu trong kinh tế, song hầu như không thể
trong quân sự. Trung Quốc có thế mạnh tuyệt đối so với các nước trong khu vực,
song không phải vì thế mà muốn làm gì cũng được tại đây. Từ 02-1979 đến nay đã
có một số ví dụ chứng minh như vậy. Hiện nay Myanmar và Mông Cổ là hai ví dụ
đáng học hỏi trong độc lập với Trung Quốc trên một số phương diện. Trung Quốc
đang tiềm tàng những khủng hoảng lớn trong nội trị và kinh tế, không có nhiều
đồng minh, và dễ bị cô lập trong thế giới nếu hiếu chiến. Nghĩa là khả năng bị
chấn thương không nhỏ nếu Trung Quốc dùng bạo lực quân sự áp đặt ý muốn của
mình. Hơn nữa, hiện tại Trung Quốc vẫn không thể đọ được với Mỹ về mọi mặt. Mối
nguy lớn nhất từ phía Trung Quốc cho đến nay vẫn là quyền lực rắn của kinh tế
mở đường và hậu thuẫn cho quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn đối phương – nhất
là trong khu vực Biển Đông.
– Có thể Trump cho rằng đã đến lúc
phải chặn đứng xu thế bá quyền nói trên của Trụng Quốc trước khi quá muộn, hiện
nay như thế là muộn. Đến lúc này Mỹ còn nhiều phương tiện trong tay – kể cả so
sánh thực lực, vấn đề Đài Loan… – để chặn đứng xu thế Trung Quốc lấn tới.
– Trong các đồng minh của Mỹ, nổi
lên là Nhật đã sẵn sàng thích ứng với bước ngoặt mới này của thế giới: những
năm gần đây đã vươn lên tự chủ về quốc phòng – bao gồm cả những nỗ lực đang
diễn ra cho vận động việc sửa đổi hiến pháp, xúc tiến những bước đi mới củng cố
khả năng tự phòng vệ, tháng 11-2016 phê duyệt quân đội Nhật tham gia các hoạt
động cứu trợ gìn giữ hoà bình của Liên hiệp Quốc; đẩy mạnh phát triển những mối
quan hệ trong khu vực. Đáng chú ý là Nhật đã chủ động làm dịu tranh chấp với
Nga chung quanh vấn đề quần đảo Kuril (Chishima). Bất chấp ngăn cản của Obama
và G7 (liên quan đến cấm vận), thủ tướng Abe tháng 5-2016 đã chủ động thăm Nga
đặt vấn đề cải thiện quan hệ. Tháng 12-2016 Abe gặp Putin lần thứ 2, tạo ra
triển vọng ký kết hiệp định hoà bình thời hậu chiến, đẩy mạnh hợp tác kinh tế
hai nước. Báo chí bình luận tư duy mới của Abe đang làm tan băng quan hệ Nhật –
Nga. Ngày 17-11-2016 Abe đã gặp Trump ngay sau khi Trump đắc cử, khẳng định đẩy
mạnh quan hệ Nhật – Mỹ sắp tới. Có thể nói Nhật đã chủ động trước bước ngoặt,
sẵn sàng đảm nhiệm vai trò khu vực của mình, đang cố gắng ở mức cao nhất đối
phó với leo thang của Trung Quốc trên biển Hoa Đông, đồng thời tiếp tục thuyết
phục Trung Quốc gìn giữ hoà bình (găp gỡ Abe – Tập Cận Bình tại Peru 11-2016
nhân dịp họp cấp cao APEC).
– Trong tầm nhìn có thể lượng trước
được – ví dụ đến giữa thế kỷ này, hầu như khó/không có thể xảy ra tình huống
Nga và Trung Quốc chuyển sang chế độ dân chủ hoặc sụp đổ do khủng hoảng, càng
không có chuyện Mỹ sẽ sụp đổ vào thời điểm này như có người nghĩ. Nghĩa là
trong khoảng thời gian lượng định được ấy, bộ 3 Mỹ – Nga – Trung vẫn là các
diễn viên chính trên sân khấu thế giới với những quan hệ chồng chéo nhau rất
phức tạp và đầy biến động. Trong khi đó EU quá bận rộn với chính mình, hoặc có
thể xuất hiện thêm các trường hợp “exit” khác.
– …
Trump thắng cử không phải là thánh
nhân và có phép tiên. Ông ta chỉ là người đã thấy được cái lối mòn tai hại của
nước Mỹ và cả gan muốn loại bỏ nó, bằng những ý định rõ ràng. Mọi việc Trump đã
nói ra đúng/sai, khả thi hay không khả thi, thực hiện được đến đâu, thành bại
ra sao, trả giá thế nào.., tất cả còn ở phía trước. Trong một loạt vấn đề thuộc
các lĩnh vực kinh tế, nội trị – đặc biệt là vấn đề người nhập cư, tăng cường
quốc phòng… có thể dự báo Trump quyết làm tới mức cho phép, như đã nói ra trong
tranh cử, bởi vì đó là con đường bắt buộc phải đi để tăng cường thực lực của
Mỹ.
Song trong hàng loạt các vấn đề song
phương / đa phương, Trump sẽ gặp không ít khó khăn ngay tại nước Mỹ lúc này –
ví dụ: những vấn đề kinh tế và nội trị, vấn đề Israel/Palestine, vân vân.., và
trong các đồng minh của mình – ví dụ các vấn đề của NATO/Nga, NAFTA, vấn đề Nga
ở Baltic và Trung Đông, vân vân… Đồng thời các đối thủ của Mỹ – trước hết là
Trung Quốc và Nga – đều không ít tham vọng, sự kháng cự hay đối phó sẽ là quyết
liệt và sảo quyệt mà chắc gì Mỹ đã hơn được, cứ xem Nga tại Syrie và Trung Quốc
tại Biển Đông thì đủ rõ. Nhiều khả năng Mỹ thời Trump sẽ tạo ra được những bước
đi đột phá – trước hết là trong quan hệ với Nga, song cái giá phải trả sẽ không
nhỏ trong căng thẳng kinh tế với Trung Quốc và vấn đề Đài Loan – để xem Trump
có giá trả giá hay không, sẽ không ít biến động và tác động đối với cả thế
giới, đặc biệt là các nước bên thứ ba…
Sự phát triển của Mỹ không phải chỉ
góp phần mình tạo ra bước ngoặt này của thế giới, mà chính nước Mỹ – dù hiện
thời mới chỉ là một nửa nước Mỹ đã bầu Trump, cũng đã lựa chọn đi vào bước
ngoặt này của thế giới hôm nay, chấp nhận những rủi ro hoặc cơ may khó lường
một cách rất Mỹ. Mặc dù kinh tế Mỹ sau bầu cử vẫn đang trên đà tốt, báo chí Mỹ
đặt câu hỏi: Năm 2017 sẽ là năm của những mong đợi hay sợ hãi?
Không nước nào có thể lựa chọn được
thế giới. Nhưng thế giới sẽ lựa chọn sự ứng xử của mỗi nước, không sót một ai.
Trong bước sang trang này của thế
giới có nhiều dấu ấn của sự xuất hiện những nhân vật nổi bật như cặp đôi người
hùng Trump – Putin đang dẫn cuộc chơi lớn (Harald Biermann – Đức), như Abe nhạy
bén một cách chính xác tạo ra một thế cờ mới cho Nhật và trong khu vực, như một
loạt các nhân vật cực hữu ở nhiều nước Tây Âu muốn ra khỏi trì trệ hiện nay,
như các thủ lĩnh của những quốc gia sẵn sàng ứng phó với cục diện mới như Đức,
Ấn Độ, Úc, Singapore, Indonesia… Tất cả hình như đang nói lên bàn cờ thế giới
chỉ dành chỗ cho những quốc gia thức với bước ngoặt này, không kể lớn nhỏ và
trình độ phát triển. Nếu đứng ngoài hoặc không có cách gì tham gia được vào bàn
cờ, nhiều khả năng nhất là sẽ trở thành quân cờ.
Trung Quốc đang kín tiếng. Đến nay,
ngoài phát biểu của Tập Cận Bình đã nói với báo chí ở Peru nhân dịp họp cấp cao
APEC 11-2016 và sự phản đối của ngoại trưởng nước này về cuộc điện đàm phá lệ,
chỉ có báo chí xỉ vả Trump, kèm theo là cảnh báo sẽ dùng quân sự chiếm Đài Loan
và sẽ cho Mỹ nếm biết sức mạnh quân đội Trung Quốc. Báo chí đưa tin hàng không
mẫu hạm Liêu Ninh và thê đội chiến hạm hộ tống đang đi tiếp về Biển Đông, nhiều
tên lửa đang được tập kết xuống Hải Nam để bố trí tại các đảo đã lấn chiếm ở
Hoàng Sa, Trường Sa. Mặc dù vậy, gần đây Trump vẫn nói sẽ cân nhắc việc gặp
Thái Anh Văn (đòn cân não?).
III. Phần kết: Một số điều rút ra
Thế giới được chứng kiến một bi hài
kịch chưa từng thấy trong kịch sử Mỹ: Trong khi Obama tận dụng những ngày nắm
quyền cuối cùng của mình thực hiện một số việc mà báo chí Mỹ gọi là đặt chướng
ngại vật gây khó cho Trump khi lên nắm quyền – như vận động hai viện của Mỹ thông
qua đạo luật cấm khai thác dầu và đá dầu vùng Bắc Cực để chống lại chính sách
năng lượng của Trump.., thực hiện trừng phạt Nga về cyber hack.., thì Putin lại
cao giọng bỏ qua không chấp vặt, nói ngay: Nga không cần trả đũa. Trump cũng
khen Putin ngay lập tức: như thế là thông minh, để cùng nhau lo việc lớn! Câu
chuyện diễn ra nhanh hơn chớp mắt, New York Time / NEIL MacFARQUHAR 31-12-2016
viết: Với Trump, ngày thứ năm Nga là kẻ thù của Mỹ, ngày thứ sáu Nga là bạn của
Mỹ (ngày thứ năm 29-12-2016 Obama ban bố việc trừng phạt Nga về cyber hack,
ngày thứ sáu 30-12-2016 Trump khen Putin).
Hình như Trump và Putin đang là hai
chính khách khuấy đảo lớn sân khấu chính trị thế giới? Ít nhất thì một cú hích
đã xảy ra thúc đẩy quan hệ Mỹ – Nga. Ít nhất Mỹ, Nga và EU đang có chung mối lo
nóng bỏng về Trung Đông/Bắc Phi, IS, nạn di cư. Phải chăng đây là một sự chuyển
động mới về tập hợp lực lượng cho mối lo chung này? Tất cả đang nói lên thế
giới hôm nay không phải là thế giới hôm qua, với một vận tốc chóng mặt của chuyển
đổi, với những thay đổi phá mọi trật tự và quan niệm đang tồn tại, với tính
quyết liệt “Hoặc là – hay là,,!” (“either – or!” – “entweder – oder!”) không
khoan nhượng với bất kỳ quốc gia nào!
Đương nhiên, một sân khấu thế giới
với 3 diễn viên chính là Mỹ – Nga – Trung đang là một thực tế hiện hữu. Mối
nguy Frankenstein Trung Quốc có thể đem lại cho thế giới, nhất là cho khu vực
Đông Nam Á không phải là sự tưởng tượng.
Song cân nhắc mọi bề, kể cả tình
hình nội trị Trung Quốc, có thể đánh giá (a) Trung Quốc dù sắp tới có GDP sẽ
vượt Mỹ, nhưng thời kỳ Trung Quốc thoả sức vơ vét lợi nhuận và tài nguyên trên
thị trường thế giới theo kiểu à la chinoise đã qua rồi, vì nhiều nước không thể
khoanh tay chấp nhận; (b) hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều phải quan
tâm xử lý những hệ quả xấu trong kinh tế nước mình do làm ăn với Trung Quốc,
mặc dù thị trường Trung Quốc trước sau vẫn quan trọng đối với họ; (c) bản thân
Trung Quốc cũng phải quan tâm nhiều hơn đến phát triển hướng nội, trước hết vì
những lý do vừa nêu và vì nhiều đòi hỏi phát triển khác bên trong Trung Quốc;
(d) đặc biệt quan trọng là toàn cầu hoá kinh tế ở nấc thang hiện nay – nhất là
cách mạng công nghiệp 4.0 đang dẫn đến những thay đổi đột phá mới trong sản
xuất và kinh doanh – với đặc điểm là ngày càng nhiều sản phẩm mới, sản phẩm
thay thế mới và những dịch vụ mới, đồng thời cũng làm xuất hiện những nhu cầu
mới (demand side) … – thực tế này đòi hỏi mọi quốc gia phải thay đổi quyết liệt
cơ cấu kinh tế của mình, kể cả Trung Quôc. Ngay trước mắt lao động cơ bắp ngày
càng thu hẹp, công nghệ lạc hậu và ô nhiễm môi trường đang bị loại bỏ không
thương tiếc… Có thể nhân định: Trong bước ngoặt này của thế giới các nguy cơ
Trung Quốc còn nguyên vẹn – nhất là đối với khu vực Đông Nam Á, nhưng Trung
Quốc không mạnh lên. Trong bối cảnh như vậy, khả năng một Trung Quốc hiếu chiến
bá quyền bị chấn thương hoặc thậm chí bị trừng phạt sẽ ngày càng lớn. Thế giới
vẫn dành chỗ cho một Trung Quốc phát triển có trách nhiệm với thế giới.
Mỹ với Trump không còn TPP nữa, đáng
tiếc, song không phải là tổn thất chết người đối với nước ta. Nếu nhìn rõ bước
ngoặt thế giới sang trang hôm nay, nước ta nên coi đây là một thách thức quyết
liệt, đòi hỏi ráo riết phải nâng cao khả năng cạnh tranh. Xin nói hình ảnh thế
này: Có TPP, nước ta phải nỗ lực 1. Không có TPP nước ta phải nỗ lực 2 nếu muốn
sống sót, tồn tại được và phát triển tiếp. Có con đường nào khác không? Hiện
nay năng suất lao động của nước ta đã đứng gần bét ASEAN – một lao động
Singapore làm ra của cải bằng 23 lao động Việt Nam, năng suất lao động nước ta
20 năm nữa mới đuổi kịp Philippines hôm nay, 50 năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan…
Sống chết phải cải cách thể chế chính trị, kiện toàn đất nước mọi mặt, để khắc
phục sự tụt hậu này. Bởi vì trong thế giới hôm nay, tụt hậu này dẫn tới ách nô
lệ tự chuốc lấy, nước ngoài không cần động tay!
Cả thế giới đang đứng trước một keo
vật Mỹ – Trung có thể là quyết liệt trong quan hệ song phương về kinh tế và về
vấn đề Đài Loan, chưa nói đến những tác động phức tạp của những vấn đề khác trong
quan hệ đa phương. Dứt dây động rừng, sóng gió chắc chắn sẽ va đập vào ĐNÁ –
trong đó có nước ta. Nước ta sẽ chịu vật vờ theo sóng gió, hay là phải tồn tại
và đứng vững được trong sóng gió hôm nay? Nước ta phải tìm câu trả lời – hoặc
sống hoặc chết!
Xin nhớ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà ra đời sau chiến tranh thế giới II ngay lập tức đã bị các đế quốc cự tuyệt,
phủ nhận, quyết xoá bỏ. Hệ quả là đất nước ta bị đẩy vào cái cối xay thịt của
thế giới 2 phe 4 mâu thuẫn không cưỡng lại được, với mọi hệ luỵ đau khổ cho đến
hôm nay vẫn chưa thoát ra được – như đã nói trong phần I. Kinh nghiệm xương máu
ấy chẳng lẽ vô nghĩa đối với chúng ta lúc thế giới bước sang trang hôm nay?
Khác với nước VNDCCH hồi ấy chìm đắm
trong những cuộc chiến tranh bị thế giới 2 phe 4 mâu thuẫn dồn vào, hôm nay
Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất, có chủ quyền, có sản phẩm bán tại
khắp thế giới, có hầu hết những nước quan trọng trên thế giới là các đối tác
chiến lược hoặc đối tác toàn diện, có triển vọng trở thành một nền kinh tế giầu
mạnh ở Đông Nam Á. Song tất cả những điều tốt đẹp này không tự nó giúp nước ta
tránh được số phận như đã từng bị đẩy vào sau chiến tranh thế giới II, nếu
trong thế giới sang trang hôm nay nước ta không tự đứng lên giành lấy cái quyền
tự định đoạt lấy vận mệnh của mình, dứt khoát không bám đuôi ai, cũng không bán
linh hồn cho ai, cũng không buông tay hay tự trói mình trước bất kỳ bạo quyền
bên ngoài nào! Cái quyền tự quyết định ấy phải đấu tranh thường xuyên bất kỳ
lúc nào mà giành lấy! Đời này chẳng có gì và cũng không khi nào có gì cho không
cả – như tôi đã viết trong bài 4!
Khác với VNDCCH sau chiến tranh thế
giới II, – chúng ta hồi ấy vừa không đủ thông tin – nghe gì biết vậy, nói gì
theo vậy, ngoài bầu nhiệt huyết được hun lên hầu như cũng chẳng được lựa chọn
gì. Cái thế giới 2 phe 4 mâu thuẫn cứ khoác lên nước ta cái nó muốn như là một
định mệnh. Ngày nay chúng ta sống trong biển cả mọi thông tin cần thiết để hiểu
được thế giới này và sự vận động của nó, có trí tuệ và kinh nghiệm của nhân
loại đủ để cho chúng ta tiếp thụ, học hỏi, tự khai minh chính mình để tìm ra
cho mình và cho đất nước con đường hôm nay phải đi. Hơn thế nữa, ngày nay chúng
ta vừa có quyền, vừa có điều kiện thực hiện sự lựa chọn của mình.
Nhưng có thực là chúng ta đang sử
dụng cái quyền và những điều kiện này không? Hay là chúng ta đang vứt bỏ chúng?
– chỉ vì mọi sự vô minh, hèn kém và sợ hãi? Hay là chúng đã/đang bị tước đoạt
khỏi chúng ta? – bị tước đoạt và tước đoạt nhau ở phạm vi từng cá nhân không
phân biệt bất kỳ ai. Và bị tước đoạt ở cả tầm vóc quốc gia!
Hôm nay, nếu một lần nữa để đất nước
ta rơi vào vòng nô lệ tự chuốc lấy, mỗi người Việt chúng ta dù là ai chỉ có thể
buộc tội chính mình, không thể đổ lỗi cho ai khác được! Quyền và tiền càng
nhiều, tội càng lớn! Trong những bài viết năm 2015 góp ý với Đại hội XII ĐCSVN,
tôi cũng đã nói rõ: Để đất nước có nhiều khó khăn, bê bối như hiện nay không
một đảng viên nào vô can! – trong đó có tôi. Độc lập quốc gia có được hơn 40
năm rồi, song đấy không phải là sự bảo đảm mặc nhiên cho phép nước ta miễn
nhiễm khỏi cái ách nô lệ tự chuốc lấy ấy. Ngày hôm nay, cái lệ thuộc và phụ
thuộc vào bên ngoài đang từng phút từng giờ gặm nhấm cái độc lập quốc gia chúng
ta đang gìn giữ, đang xô đẩy không ngừng nghỉ nước ta vào cái ách nô lệ tự chuốc
lấy! Sự tha hoá này chẳng kiêng tha cái gì của đất nước chúng ta!
Những gì đất nước chắt chiu xây dựng
nên được 40 năm nay phải trả cái giá đắt lắm, phải cố gìn giữ để phấn đấu tạo
sức đi tiếp. Hay là cam chịu để cho chế độ chính trị của đất nước tha hoá tiếp?
Đành khoanh tay chờ đến một ngày nào đó ruỗng mục sẽ dẫn tới tự sụp đổ trong
cảnh nồi da xáo thịt? Đã có những suy nghĩ như vậy trong lòng đất nước, bởi vì
mất niềm tin ĐCSVN có thể cải cách đổi đời cứu nước và thay đổi chính mình!
Giữa lúc đất nước đang tìm đường bước vào quốc gia khởi nghiệp với nhiều hy
vọng! Giữa lúc đất nước đang ngấp nghé bên miệng hố chiến tranh của khu vực và
sự can thiệp ngày càng nguy hiểm của bên ngoài! Giữa lúc hoà bình ở Đông Nam Á
và bạn bè khắp thế giới mong mỏi có một Việt Nam góp phần xứng đáng vào an
ninh, ổn định và phát triển của khu vực… Có cam chịu như thế không?
Đi tiếp trên con đường mòn đang đi
bốn chục năm nay sẽ không chỉ có chuyện năng suất lao động tiếp tục tụt hậu.
Nguy hiểm hơn nữa là mọi thành quả chắt chiu được và chế độ chính trị của đất
nước đang lừng lững tiến về hướng tự sụp đổ – vì những nguyên nhân bên trong và
vì sóng gió từ bên ngoài tại bước ngoặt hôm nay của thế giới. Có phải như vậy
không? Làm gì chặn đứng lại cái chết từ từ nhưng lừng lững như ung thư này?
Hôm nay nước nào đi tiếp trên con
đường món cũng chết, kể cả Mỹ (xin đọc lại bài 1). Đã đến lúc phải tự dứt mình
ra khỏi cơn mê ngủ hiện nay để nhìn nhận lại tất cả. Ví dụ, mê ngủ đến mức Bộ
trưởng công thương đang cả quyết đến cùng bảo vệ thép Cà Ná, cho rằng nó an
toàn với môi trường. Giả thiết rằng nó an toàn thật và Bộ trưởng không tư lợi,
thi Bộ trưởng vẫn sai nghiêm trọng về chiến lược, ở chỗ dự án này sẽ tiếp tục
kéo đất nước lùi sâu thêm vào công nghiệp của sản phẩm hạ nguồn, tiếp tục biến
nước ta thành bãi thải công nghiệp cho bên ngoài – giữa lúc nước ta có mật độ
dân sô cao nhất châu Á và đang vô cùng thiếu không gian và môi trường sinh
sống, giữa lúc thế giới đã bước vào thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Nếu cho
rằng Cà Ná không còn gì hơn là làm thép để mà sống thì càng mê ngủ nữa! Đất
nước đang đầy rẫy những cái mê ngủ như thế! Nhất là trong hệ thống chính trị và
trong bộ máy quản trị quốc gia, trong quan điểm phát triển – đặc biệt là trong
tôn trọng các quyền của dân, mê ngủ không thể tưởng tượng được – không hiếm
trường hợp nhìn dân thành địch! Hơn ai hết, Việt Nam rất cần hoà bình, hữu
nghị, có sự tôn trọng lẫn nhau về độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Trung Quốc. Muốn lắm! Muốn đời đời chứ
không phải nhất thời. Nhưng mê ngủ thế này thì không bao giờ có được! Vân vân…
Phải làm gì và làm thế nào? Câu trả
lời tôi đã xới lên trong phần kết của bài 1, xin hứa sẽ suy nghĩ tiếp.
Tới đây chỉ xin nói thêm về ĐCSVN.
Bài quá dài, FB cắt bớt. Mời bấm vào
link đọc tiếp:
https://anhbasam.wordpress.com/2017/01/05/11-125-tim-hieu-them-ve-the-gioi-da-sang-trang-bai-5/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét