(Đọc “Tuỳ Tưởng Lục” của Ba Kim)
Vũ Thư Hiên
Vũ Thư Hiên
Thường khi gặp được một cuốn sách
hay là tôi phải đọc một lèo. Có khi thức trắng đêm đọc cho bằng xong. Chưa xong
thì trong người cứ anh ách, ngủ không yên. Lâu ngày thành cái tật, sửa không
được.
Cuốn Tuỳ Tưởng Lục (bản dịch) tôi
đang có trong tay là của một bạn văn trong nước gửi cho. Thỉnh thoảng anh vẫn
gửi cho tôi một thứ gì đó, đại loại như trà Tân Cương, cốm Vòng, hoặc tinh dầu
cà cuống thứ thiệt, kèm theo một lời nhắn. Thư thì không, tuyệt nhiên. Anh
không giấu giếm rằng anh nhát. Lần này có người tin cẩn anh lại gửi quà – một
cuốn sách. Chúng tôi chơi với nhau đã nửa thế kỷ, người nọ thuộc tính người
kia, tôi không trách anh không dám viết thư. Anh cho quà là quý rồi. Anh biết
chắc tôi sẽ thích món quà của anh.
Mà thích thật. Trước hết, đó là
cảm giác gần gụi của thân phận tác giả với thân phận người đọc, của sự đồng
cảm. Cứ đọc xong một bài, có khi chỉ một đoạn, lại phải đặt sách xuống, thừ
người ra mà ngẫm nghĩ. Có chỗ, ứa nước mắt.
Thích thì thích, nhưng tôi đã
không đọc nổi Tuỳ Tưởng Lục của Ba Kim một mạch. Chắc nó cũng có sức lôi cuốn
tương tự với những ai từng sống trong xã hội cộng sản và có một chút trăn trở
về xã hội ấy (dù chỉ một chút thôi): nó thật sự là cái gì vậy? nó có xứng với
ta, với con người, không? liệu nó còn tương lai không?
Tuỳ Tưởng Lục là lời tâm sự thật
thà của một trí thức háo hức đi tìm chân trời mới, rồi lớ ngớ thế nào lại thấy
mình rơi tõm xuống địa ngục. Trong Tuỳ Tưởng Lục có đủ nỗi nhục nhằn tinh thần
và những mất mát làm trái tim suốt đời rỉ máu, không kể đến những đớn đau thân
xác.
Tuỳ Tưởng Lục, bản tiếng Việt
(nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) là một tập những bài viết
của Ba Kim trong tuổi trên 80, nghĩ gì viết nấy, không câu nệ thể loại, đề tài.
Hai dịch giả danh tiếng - Trương Chính và Ông Văn Tùng – tự chọn các bài để
dịch. Sự chọn lựa của hai ông rất khéo: vừa đủ để người đọc được biết về một
thảm hoạ xảy ra ở nước láng giềng đã nhiều năm, nhưng vì bị bưng bít nên không
ai biết vân mòng nó ra làm sao, đồng thời cũng tránh được cơn giận dữ ở các bậc
quyền cao chức trọng dễ chạnh lòng.
Tuỳ Tưởng Lục nguyên bản tiếng
Hoa là một tác phẩm đồ sộ, gồm 5 tập, không rõ bao nhiêu trang, tập đầu in năm
1978, tập cuối in năm 1986. Những bài được chọn để dịch đều ít nhiều dính dáng
tới cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá Vô sản” kéo dài mười năm - từ 1966 đến 1975 .
Người Việt nào từng chịu đựng cuộc Tiểu cách mạng văn hoá vô sản ở Việt Nam (nó
không có tên gọi, kéo dài và âm thầm) sẽ tìm thấy trong Tuỳ Tưởng Lục (bản
dịch) những lý giải cho câu hỏi: vì sao nên nỗi?
Những nghiên cứu khoa học cho ta
biết trong trí nhớ của con người có một bộ lọc kỳ diệu. Nó thường xuyên xoá đi
giúp ta những hình ảnh xấu, những kỷ niệm buồn. Không có cái bộ lọc ấy thì cuộc
sống con người khốn nạn lắm.
Thật vậy, tôi cũng thường quên những điều tồi tệ, chỉ những kỷ niệm đẹp mới được ghi lại. Tác giả Tuỳ Tưởng Lục chắc cũng không khác. Không thế, không sống nổi.
Thật vậy, tôi cũng thường quên những điều tồi tệ, chỉ những kỷ niệm đẹp mới được ghi lại. Tác giả Tuỳ Tưởng Lục chắc cũng không khác. Không thế, không sống nổi.
Vậy mà, với Tuỳ Tưởng Lục Ba Kim
lại chống cái trí nhớ có lợi cho con người ấy. Trải qua những năm tháng bị dập
vùi, ngẫm lại thân phận mình và thân phận đồng bào trong cái xã hội “không thể
tưởng tượng nổi”, ông kêu gọi mọi người không được quên cái Ác và tội của nó.
Quên là chết. Nhớ thì đau đấy, khổ đấy, nhưng phải khắc cốt ghi xương, rằng nó
đã có, cái Ác ấy, nó hằng có, lúc tiềm tàng, lúc hiện diện, cho nên phải luôn
cảnh giác với nó, để mặc nó lộng hành thì con người không thể nào có được cuộc
sống yên lành. Phải chặn đứng cái Ác khi còn chưa muộn, phải trói nó lại, cách
ly nó khỏi đời sống, tìm mọi cách tiêu diệt nó. Không thể để lũ ác nhân cứ tự
do hoành hành, tác yêu tác quái, rồi bất kể hậu quả là thế nào, chúng cứ nhơn
nhơn lớn lối với bàn dân thiên hạ, coi như không có chuyện gì xảy ra, chỉ có
mình chúng là duy nhất đúng đắn, là vô cùng sáng suốt: “Thành tích là căn bản,
sai lầm là nhất thời”. Đối với lũ ác nhân đội lốt thiên thần dường như cứ đạt
được một thành tích nào đó, dù chỉ trong tưởng tượng, thì cái gì cũng được
phép. Đánh người tuỳ thích. Giết người tha hồ.
Gần ba chục năm đã trôi qua kể từ
hạo kiếp của Ba Kim kết thúc. Nhưng ông lúc nào cũng bị dằn vặt bởi câu hỏi:
lấy gì bảo đảm rằng vào một lúc nào đó, lại không có một tên nào đó, hoặc vài
ba tên nào đó, hoặc cả một lũ một lĩ nào đó, sẽ lặp lại lần nữa, hoặc hơn một
lần nữa, cái cuộc thiên hạ đại loạn từng đẩy ông, các bạn ông, và không biết
bao nhiêu người Trung Quốc hiền lành vô tội khác, xuống địa ngục?
Trong một bài nói chuyện với giới
văn hoá ở Nhật (trong bài không ghi rõ ngày tháng, nhưng chắc chắn là phải sau
1975), Ba Kim cảnh báo: “Mười năm đại hoạ đó là sự việc lớn trong lịch sử loài
người, chẳng những dính líu đến chúng tôi, mà còn dính líu đến tất cả loài
người”. Nếu Đại cách mạng văn hoá vô sản không xảy ra ở Trung Quốc ắt phải xảy
ra ở một nước nào khác, ông nói thế.
Ba Kim đúng. Đúng ở chỗ ông đã
nói ra. Nhưng ông cũng sai. Sai ở chỗ ông biết mà không nói hết.
Đúng là cuộc Đại cách mạng văn
hoá vô sản không phải chỉ là bài học cho một nước. Nó là bài học chung cho cả
loài người. Chưa kể những nơi mà nó khơi dậy những tiểu cách mạng văn hoá vô
sản như ở Việt Nam và Cambodia. Ở đó những di hoạ khủng khiếp của nó không biết
đến bao giờ mới tuyệt diệt. Cái hoạ này lớn hơn ta tưởng nhiều. Nó lớn ở chỗ
người trong cuộc không nhận ra nó khủng khiếp tới mức nào, đừng nói gì người
ngoài. Mà không phải chỉ ở những nơi nào nó diễn ra mới chịu hậu quả tai hại.
Cứ xem châu Âu của truyền thống dân chủ và tự do trong thập niên 60 thế kỷ
trước thì thấy. Hồi ấy đã có bao nhiêu trí thức châu Âu hoan hỉ chào mừng những
cuộc “vận động” của những “mao-nhiều” Trung Quốc, cứ như thể dưới bóng lá cờ
năm sao đang diễn ra một cuộc đổi đời thật sự, biến mọi sự xấu thành tốt. Đã có
bao nhiêu người ở khắp thế giới này hướng về Thiên An Môn với hi vọng được thấy
một thế giới mới sẽ từ đó toả ra khắp năm châu bốn biển? Và cho tới hôm nay rải
rác đâu đó vẫn còn những “mao ít” mang huy hiệu Mao Trạch Đông trên ngực, miệng
hô: “Cái thế giới này phải cải tạo bằng khẩu súng trường ”, tay trói du khách
đem đi giấu để đòi tiền chuộc.
Ba Kim sai, ở chỗ nơi “Đông
phương hồng, mặt trời lên, Trung Hoa chúng ta có Mao Trạch Đông” không phải chỉ
có một cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản. Trước nó đã có hết cuộc “vận động”
này đến cuộc “vận động” khác, và như một quy luật, cuộc “vận động” nào cũng kết
thúc bằng một địa ngục, không phải cho người này thì người kia. Ai theo dõi
tình hình Trung Quốc cận đại cũng biết rằng trước cái đận Ba Kim và các trí
thức đi theo đảng cộng sản bị hạ ngục, bị trấn áp, đã có biết bao nhiêu nạn
nhân thuộc các thành phần khác: đảng viên Quốc dân đảng, viên chức chính quyền
cũ, tư sản, địa chủ… và những người được gọi bằng cái tên chung “phản động”. Số
người bất hạnh ấy là bao nhiêu không ai biết. Đảng cộng sản độc tôn cai trị
không thống kê. Nhưng không phải vì thế mà Ba Kim được phép quên những người
ấy. Hoặc lờ họ đi. Họ cũng là người như ông chứ. Chẳng lẽ ông có thể phớt lờ
một sự thật rành rành rằng ở Trung Quốc mọi cuộc “vận động” “xây” cái này,
“chống” cái kia, bao giờ cũng đi kèm với trống rong cờ mở ban đầu và kết thúc
thắng lợi với máu chảy, người chết. Lệ là thế. Không thế không phải là cách
mạng. Theo lý thuyết của chủ tịch Mao.
Ba Kim được các nhà phê bình văn
học bản địa coi là một trong bốn cây đại thụ của nền văn học Trung Quốc (ba
người kia là Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược). Cách đánh giá của họ không có
sự đồng thuận ở bên ngoài Trung Quốc. Nhưng đánh giá theo cách nào thì Ba Kim
cũng là một nhà văn lớn. Ông tên thật là Lý Nghiêu Đường, tự Phế Cam, người
tỉnh Tứ Xuyên, con nhà giàu có, từng du học Pháp. Năm 23 tuổi, khi còn là học
sinh trường trung học La Fontaine ở thị trấn Chateau-Thierry, ông viết cuốn
tiểu thuyết đầu tay Diệt Vong, được độc giả rất hoan nghênh. Từ năm 1930-1949
ông viết nhiều (Ái Tình Tam Bộ Khúc, Kịch Lưu Tam Bộ Khúc), dịch cũng nhiều.
Sau năm 1949, khi lục địa Trung
Hoa đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ, Ba Kim cũng như rất nhiều văn nghệ sĩ đã đi theo
đảng cộng sản. Tự nguyện hoàn toàn. Một lòng một dạ. Với tất cả tâm hồn hướng
thiện nồng cháy. Tuy nhiên, Ba Kim viết ít hơn hẳn so với trước. Nhà trí thức
Ba Kim không theo kịp (hay đã cố gắng mà không sực nổi) những khẩu hiệu “Quán
triệt phương hướng phục vụ công nông binh, phục vụ chủ nghĩa xã hội”, “thực
hiện phương châm “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, “Tiến hành phương pháp chủ
nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng”… Nào có
phải chỉ có những khẩu hiệu rổn rảng mà thôi. Theo sau chúng là những cuộc đấu
tranh có máu đổ, có người chết. Nào “Phê phán phim Vũ Huấn” (1951), “Phê phán
cuốn “Nghiên cứu Hồng Lâu Mộng” của Du Bình Bá”, “Phê phán quan điểm duy tâm
của Hồ Thích” (1954), “Chống tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong” (1955), “Chống
phái hữu trên mặt trận văn nghệ” (1957), “Chống “chủ nghĩa xét lại” (1959). Đây
là chỉ nói về các cuộc “vận động” nhằm nện cho trí thức nhừ tử. Chứ còn tư sản,
địa chủ thì Mao chủ tịch và các đồng chí của ông ta đã quét sạch sành sanh.
Tất cả sự tàn nhẫn của đảng cộng
sản đối với trí thức, xét cho cùng, chỉ có mục đích bắt họ phải khuất phục đảng
vô điều kiện. Nhưng chưa phải thế đã đủ, những cuộc “vận động” kia hoá ra mới
chỉ là khúc nhạc dạo cho một cuộc “cách mạng” còn tàn bạo và gớm ghiếc gấp bội.
Tên của nó là “Đại cách mạng văn
hoá vô sản”.
Tháng 8 năm 1966, đùng một cái,
Ba Kim rơi xuống địa ngục.
Ông tả lại: “… Tôi thật giống như một du hồn bị đưa đến “Thập điện Diêm Vương”. Mỗi chuyện tôi làm trong quá khứ đều bị nêu ra, từng cái một, để bỏ tôi vào vạc dầu mà tra tấn, mà thay xương đổi thịt! Mười bức vẽ đưa vong linh đi qua thập điện Diêm Vương, âm khí thê thảm, máu chảy đầm đìa,không biết mình là người hay là quỷ, là thú vật hay hồn ma, xuống âm ty hay đã xuống địa ngục rồi. Bấy giờ Tiêu San còn sống, sáng dậy tôi mở mắt, nghe tiếng nàng, tôi gọi thì nàng nói: “Không sống nổi nữa!” (Tuỳ Tưởng Lục).
Ông tả lại: “… Tôi thật giống như một du hồn bị đưa đến “Thập điện Diêm Vương”. Mỗi chuyện tôi làm trong quá khứ đều bị nêu ra, từng cái một, để bỏ tôi vào vạc dầu mà tra tấn, mà thay xương đổi thịt! Mười bức vẽ đưa vong linh đi qua thập điện Diêm Vương, âm khí thê thảm, máu chảy đầm đìa,không biết mình là người hay là quỷ, là thú vật hay hồn ma, xuống âm ty hay đã xuống địa ngục rồi. Bấy giờ Tiêu San còn sống, sáng dậy tôi mở mắt, nghe tiếng nàng, tôi gọi thì nàng nói: “Không sống nổi nữa!” (Tuỳ Tưởng Lục).
Nói đùng một cái, là vì Ba Kim
đang sống yên lành, hơn nữa, còn hữu hảo lắm lắm với chính quyền cộng sản, vào
thời điểm ấy ông còn là cán bộ cấp cao về văn nghệ nữa; ấy thế mà một hôm, vừa
mới đi tiễn các nhà văn Á-Phi ở sân bay về đến nhà thì gặp người của cách mạng
ập tới, túm lấy, trói tay giải đi.
Úm ba la, Ba Kim – nhà văn cộng
sản - trở thành “đối tượng của chuyên chính vô sản”. “Đối tượng”, chữ ấy thoạt
nghe có vẻ vô thưởng vô phạt, nhưng nghĩa của nó trong thực tiễn xã hội chủ
nghĩa chỉ có người trong cuộc mới hiểu được nó là cái gì. Nó có nghĩa nôm na là
“kẻ thù”. Không phải chỉ là kẻ thù giai cấp được định nghĩa trong các tác phẩm
kinh điển mác-xít, được dùng nhiều nhất trong các trước tác của Stalin, Mao
Trạch Đông, không phải thế. Ở cái xã hội được gọi là xã hội chủ nghĩa (viết
hoa) ai cũng có thể trở thành “kẻ thù” hết. Mà đã là kẻ thù thì còn cái gì tốt
đẹp, vui vẻ, chờ đợi họ trên con đường khổ ải đã trở thành quen thuộc chứ. Nhất
là người dân ở nước Trung Hoa đỏ. Ở nước này ai cũng biết mỗi khi có một cuộc
“vận động cách mạng” (lần thứ n trong lịch sử) là y như rằng các “đối tượng”
của cách mạng (hay của chuyên chính vô sản thì cũng rứa) sẽ được “xử lý” như
thế nào.
Nhà văn Ba Kim hiền lành không
dám chống lại đảng cộng sản, thậm chí trong ý nghĩ. Thế mà đùng một cái ông bị
đảng ném vào cái đống lúc nhúc đủ mọi thứ “kẻ thù của cách mạng”. Ông bị mang
đi đấu khắp nơi, từ thấp đến cao, lúc “bồi đấu”, lúc “dạo đấu” , lúc “chính
đấu”, đủ kiểu. Nhà ở của ông bị lục lọi khám xét lanh tanh bành, đồ đạc bị cướp
thả cửa…, bản thân bị đưa đi “học tập” (Ba Kim gọi là làm “bò”, bị bắt đi lao
động cải tạo ở “trường 7.5” ). Bởi vì Ba Kim có tội, theo quan niệm của cách
mạng, của đảng cộng sản, hay nói cho đúng hơn, của một số “ông bà” cách mạng
(than ôi, chẳng bao lâu sau những ông bà cách mạng này lại bị các ông bà cách
mạng khác vạch mặt chỉ tên rằng đó là một “bè lũ” phản cách mạng). Tội của Ba
Kim không được toà án nào tuyên. Mấy ông bà cách mạng nắm Đảng cộng sản lúc ấy
chỉ cần phán: Ba Kim là “tên đại phản cách mạng”. Thế là đủ. Bói ra ma, quét
nhà ra rác, những gì Ba Kim viết, trường hợp của ông cũng không khác gì của các
nhà văn khác, tháng trước năm trước được khen, tháng sau năm sau bị chửi, là
chuyện thường tình.
Trong các văn kiện nói về cuộc trấn áp rùng rợn này, đảng cộng sản Trung Quốc ra một khẩu hiệu sắt máu: “Đánh gục tại chỗ, lấy chân đạp xuống, suốt đời không cho ngóc đầu dậy!”.
Trong các văn kiện nói về cuộc trấn áp rùng rợn này, đảng cộng sản Trung Quốc ra một khẩu hiệu sắt máu: “Đánh gục tại chỗ, lấy chân đạp xuống, suốt đời không cho ngóc đầu dậy!”.
Ở miền Bắc Việt Nam hồi ấy chẳng
ai biết “Đại cách mạng văn hoá vô sản” là cái chi chi, trừ những bài ca ngợi
nó, tít chữ to, in màu đỏ đậm, trên trang nhất tờ Nhân Dân. Trong những cuộc
nói chuyện “nội bộ”, các lãnh tụ lớn lãnh tụ bé ra sức ca ngợi cuộc “Đại cách
mạng văn hoá vô sản” do chính Mao chủ tịch vĩ đại đích thân chỉ đạo. Trong thời
gian này bà vợ của Mao chủ tịch vĩ đại là đồng chí Giang Thanh hồi ấy sang Hà
Nội theo lời mời của chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách khách riêng. Bà ta hỗng
lắm, là khách mà lại đòi xem trước những bài xã luận báo Nhân Dân, rồi tự mình
sửa từng chữ từng câu. Chuyện này tôi không bịa – chính người làm báo Nhân Dân
kể tôi nghe. Cầm trong tay những số báo ấy, người đọc giật mình thon thót, toát
mồ hôi hột: liệu ở bên ta rồi có sẽ có cái “cách mạng” kiểu đó không? Mấy ông
kễnh bên ta dám động cỡn lên làm một cái gì đó theo chân các Con Trời lắm. Nước
Tàu ở gần ta quá, mà các ông kễnh của ta lại xính bắt chước. Cứ nghe các ông ấy
nói thì cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản” ở bên Tàu hay lắm, rằng cuộc sống
sẽ ngày một tốt đẹp hơn là nhờ có nó. Cứ như thể không có cách mạng thì người
ta ăn cám cả.
Ờ, người ta nói, có đấu tranh như
thế thì cuộc sống sẽ tốt hơn thì… tốt thôi. Miễn đừng có khởi lên một cuộc đấu
tranh ”long trời lở đất” như cải cách ruộng đất. Kinh nghiệm sống trong các
quốc gia xã hội chủ nghĩa cho người ta biết: phàm đã “đấu tranh” là y như rằng
xã hội lộn tùng phèo, đầu chẳng phải phải tai, lành ít dữ nhiều, loạn xị bát
nháo, kinh lắm. Các lãnh tụ quyền sinh quyền sát thì họ có lợi, chứ dân đen chỉ
có nước chết, bị tóm cổ bắt đấu tranh mà không thể biết “tránh đâu”?
Nhưng những tin vỉa hè, bây giờ
được dân gian gọi bằng một cái tên hiện đại, mà rất trúng, là Thông tấn xã nhân
dân, cho biết ở bên Tàu chẳng có cách mạng cách miếc gì hết, mà đang có một
cuộc “thiên hạ đại loạn” với những tiểu tướng Hồng vệ binh hung hăng đâp phá,
bắt bớ, và cả giết chóc nữa.
Bắc Kinh mà đã báo mưa thì vua quan ở Hà Nội đi ô, bà con hãy cẩn thận!
Nhưng than ôi, đã ở trong vòng kiềm toả của đảng cộng sản rồi thì có cẩn thận cũng bằng thừa.
Thật vậy, chẳng bao lâu sau sự khởi đầu Đại cách mạng văn hoá vô sản, Lê Duẩn - hoàng đế tân triều, ngồi trên ngai vàng vẫn còn quen tay bẻ ghi đường sắt, ra lệnh phát động ngay tắp lự một cuộc trấn áp bọn phản cách mạng, theo hình mẫu Trung Quốc, gọi là “bọn xét lại chống Đảng”. Cánh tay phải của Lê hoàng đế là Tể tướng giấu mặt Lê Đức Thọ và Đệ nhất đao phủ Trần Quốc Hoàn ra tay.
Thế là tôi vào tù. Cùng với vô số người khác.
Trong cuộc sống trong xà lim kín như bưng kéo dài hơn bốn năm, tôi không biết việc gì đang xảy ra bên ngoài bốn bức tường, nói gì đến những việc xảy ra ở tận bên Tàu. Đến lúc được đưa ra trại chung mới được nghe sơ sơ về cái cuộc cách mạng long trời lở đất ấy. Những người Trung Hoa từ đại lục chạy qua, bị bỏ tù bởi nước chư hầu, nước phên dậu của Thiên triều, tránh không kể kỹ. Không phải vì họ sợ, đã ở trong nhà tù Việt Nam rồi còn quái gì mà sợ, nhưng họ ngán nhắc tới những kỷ niệm hãi hùng. Còn tôi thì nghe cái sự kể sơ sơ ấy đã dựng tóc gáy. Còn khiếp hơn những chuyện kinh dị đọc trong sách nhiều. Mạng người như mạng ngoé. Dân thường còn thế, chắc trí thức Trung Quốc khốn khổ lắm. Đến những năm 1979-1980 khi cái răng Trung Quốc đùng đùng cắn môi Việt Nam một cái rõ đau, các nhà cầm cân nảy mực Việt Nam coi Trung Quốc là kẻ thù rồi, tôi mới được đọc lác đác vài cuốn sách bôi xấu những nhà lãnh đạo một thời của Thiên triều, đại loại như Hồng Đô Nữ Hoàng (Giang Thanh), những chuyện thâm cung bí sử có liên quan tới Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân, Diệp Kiếm Anh, Hạ Long, Bành Đức Hoài, Chu Ân Lai…
Bắc Kinh mà đã báo mưa thì vua quan ở Hà Nội đi ô, bà con hãy cẩn thận!
Nhưng than ôi, đã ở trong vòng kiềm toả của đảng cộng sản rồi thì có cẩn thận cũng bằng thừa.
Thật vậy, chẳng bao lâu sau sự khởi đầu Đại cách mạng văn hoá vô sản, Lê Duẩn - hoàng đế tân triều, ngồi trên ngai vàng vẫn còn quen tay bẻ ghi đường sắt, ra lệnh phát động ngay tắp lự một cuộc trấn áp bọn phản cách mạng, theo hình mẫu Trung Quốc, gọi là “bọn xét lại chống Đảng”. Cánh tay phải của Lê hoàng đế là Tể tướng giấu mặt Lê Đức Thọ và Đệ nhất đao phủ Trần Quốc Hoàn ra tay.
Thế là tôi vào tù. Cùng với vô số người khác.
Trong cuộc sống trong xà lim kín như bưng kéo dài hơn bốn năm, tôi không biết việc gì đang xảy ra bên ngoài bốn bức tường, nói gì đến những việc xảy ra ở tận bên Tàu. Đến lúc được đưa ra trại chung mới được nghe sơ sơ về cái cuộc cách mạng long trời lở đất ấy. Những người Trung Hoa từ đại lục chạy qua, bị bỏ tù bởi nước chư hầu, nước phên dậu của Thiên triều, tránh không kể kỹ. Không phải vì họ sợ, đã ở trong nhà tù Việt Nam rồi còn quái gì mà sợ, nhưng họ ngán nhắc tới những kỷ niệm hãi hùng. Còn tôi thì nghe cái sự kể sơ sơ ấy đã dựng tóc gáy. Còn khiếp hơn những chuyện kinh dị đọc trong sách nhiều. Mạng người như mạng ngoé. Dân thường còn thế, chắc trí thức Trung Quốc khốn khổ lắm. Đến những năm 1979-1980 khi cái răng Trung Quốc đùng đùng cắn môi Việt Nam một cái rõ đau, các nhà cầm cân nảy mực Việt Nam coi Trung Quốc là kẻ thù rồi, tôi mới được đọc lác đác vài cuốn sách bôi xấu những nhà lãnh đạo một thời của Thiên triều, đại loại như Hồng Đô Nữ Hoàng (Giang Thanh), những chuyện thâm cung bí sử có liên quan tới Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân, Diệp Kiếm Anh, Hạ Long, Bành Đức Hoài, Chu Ân Lai…
Nhưng mãi đến bây giờ, ba chục
năm sau đó, qua Tuỳ Tưởng Lục tôi mới được biết cái ngày “hội cách mạng” ở
Trung Quốc đã diễn ra với giới trí thức như thế nào?
Tôi tin Ba Kim kể thật những gì
ông viết về “Đại cách mạng văn hoá vô sản”. Tôi tin ông không bịa, như thường
thấy trong những hồi ký ba lăng nhăng thuộc dòng văn học tố khổ. Mặt khác, tôi
còn tin rằng ông đã nói ít hơn những điều ông biết và có thể kể lại. Có thể cảm
thông với ông, ông không dám nói đủ, nói hết, một phần do sợ hãi (sợ hãi là một
thành tố của tính người xã hội chủ nghĩa, không có nó con người xã hội chủ
nghĩa không thể tồn tại), phần khác do mặc cảm tội lỗi – xét cho cùng, ông đâu
có hoàn toàn vô can trong những gì tồi tệ đã diễn ra?
“Đại cách mạng văn hoá vô sản”,
theo lời tả của Ba Kim, bắt đầu một cách ào ạt, rầm rộ, với trống giong cờ mở,
thanh la não bạt; hào hùng lắm, khí thế lắm. Trong không khí sôi động ấy các
nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hoạ sĩ… , nói tóm lại, tất tần tật các văn nghệ sĩ,
các trí thức, lần lượt bị phái “tạo phản” (một tên gọi phái cực tả, là về sau
kia) điểm mặt, lôi ra. Họ bị buộc đủ các thứ tội đối với cách mạng, từ khinh
thị công nông, nói xấu lãnh tụ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác, đến phản cách mạng,
bán nước... Họ là đều là “hoa dại”, là “cỏ độc” hết, tuốt tuột. Phái “tạo phản”
la hét đầu đường cuối phố: “Phải quét sạch, phải nhổ tận rễ mọi thứ hoa dại cỏ
độc”. Quần chúng, như đàn cừu Panurge , ào ào theo sau, xông vào nhà những
người bị đấu, lôi họ ra đường, bắt họ đội “mũ cao” (một hình thức nhục mạ), nhổ
bọt vào mặt họ, ném đá vào người họ, hô to những khẩu hiệu đòi tiêu diệt họ. Và
xung phong vào nhà bọn hoa dại cỏ độc mà ăn cướp, ăn cướp thực sự, theo nghĩa
đen.
Ba Kim tả: “Tôi bỗng trở thành ác
bá văn chương” , thành “yêu ma quỷ quái”, thường xuyên bị lôi ra phê đấu. Về
sau do “lũ bốn tên”, qua quyết định của sáu người có trách nhiệm ở Thượng Hải
là Vương Hồng Văn, Mã Thiên Thuỷ, Từ Cảnh Hiền… đánh tôi thành “tên phản cách
mạng không đội mũ cao”. đuổi tôi ra khỏi giới văn nghệ”. Phái "tạo
phản" và tay chân của “lũ bốn tên” dán lên mấy nghìn tờ báo chữ to (đại tự
báo) về tôi, thậm chí còn dán biểu ngữ ngay trên đường cái nói tôi là “quân bán
nước”, “phản cách mạng”, cho tôi là thối tha. Trương Xuân Kiều tuyên bố công
khai không cho tôi sáng tác nữa” (Tôi Và Văn Học). “Nghĩ lại những ngày ấy… tôi
vẫn rùng mình rởn gáy. Tôi cảm thấy rành rành rằng tấm lưới xung quanh tôi ngày
càng thít lại, mỗi tuần lễ một ghê gớm hơn”...”Nực cười là tôi cũng cho nhân
quyền là thứ của giai cấp tư sản, còn hạng “yêu ma quỷ quái” như chúng tôi
không có tư cách hưởng những thứ ấy. Lúc đó sống một ngày dài bằng cả năm, còn
bụng dạ nào mà cười? (Về Nói Thật. Bài Thứ Ba). “Tôi không giấu là nhiều lần
tôi bị phái "tạo phản" lôi lên bục bắt “ngồi máy bay phản lực”; tôi
cúi đầu nhận tội, diễn đủ các trò hề! Có lần, tôi và một ông bạn nhà văn già
phải quỳ trên sàn hội trường phân hội Liên hiệp các nhà văn để tiếp thu những
lời phê phán “phần tử cuồng loạn” của bọn học sinh “cách mạng” (Vô Đề).
Không phải chỉ có Ba Kim bị nhục
mạ. Vào thời kỳ đen tối ấy những công thần của cách mạng như Lưu Thiếu Kỳ, Trần
Nghị, Đặng Tiểu Bình, Chu Đức, Trần Vân… cũng bị đấu, bị đội mũ cao giong phố
trong tiếng hô đả đảo rầm trời, phải gục đầu quỳ gối trước các tiểu tướng Hồng
vệ Binh.
Nhưng đó là những nhà chính trị.
Trí thức không thế. Trí thức là những người da không dày. Họ rất mẫn cảm với
mọi tác động từ bên ngoài. Cách mạng vô sản chưa kịp tiêu diệt thì nhiều người
trong đám văn nghệ sĩ đã tự tiêu diệt rồi. Ba Kim kể: “Dĩ Quần là người thứ
nhất. Nghe nói, anh nhảy lầu ngày mồng hai tháng tám, nhưng cho đến hôm nay tôi
vẫn chưa biết rõ anh bị bức phải nhảy lầu như thế nào. Tôi chỉ biết anh bị
người ta bức tử với tội “không cần có chứng cứ”… “Dĩ Quần chết một tuần rồi tôi
mới hay tin, còn như Lão Xá “vỡ ngọc” thì một thời gian lâu sau khi ông tự sát
tôi mới biết”. Những người tự sát chưa chắc đã là những người hèn nhát. Phó
Lôi, một người bạn mà Ba Kim mến phục, giải thích cái chết của bạn bè, và của
chính mình, bằng câu: “Kẻ sĩ, có thể giết, không thể làm nhục”. Sau Dĩ Quần,
Lão Xá, Ba Kim được tin Trần Đồng Sinh, Kim Trọng Hoa… “họ ở rất gần nhà tôi,
thế mà tôi không biết họ chết vào lúc nào. Kim Trọng Hoa lặng lẽ treo cổ trong
phòng, bà mẹ tám mươi chỉ nghe tiếng ghế đổ… Trần Đồng Sinh, thì nghe nói chết
nằm vắt trên bếp ga, do đó người ta đoán anh tự tử. Nhưng anh đang ở trong thời
kỳ “cách ly kiểm tra” mà, làm sao có thể mở bếp ga được? ” (Hai Mươi Năm
Trước). Cù Bạch Âm chỉ vì một bài “Tự bạch về đi tìm cái mới” mà “chịu đủ mọi
nỗi dày vò như ở địa ngục”, kết thúc bằng cái chết bi thảm (Tìm Tòi).
Ba Kim viết: “Trong Văn Cách ,
những trí thức bị chết oan đâu chỉ có hàng ngàn, hàng vạn. Họ nêu cao tấm gương
phê phán cái triết lý “hãy cứu lấy mạng sống”. Tôi nhớ thời chống phái hữu ,
tôi có viết một bài báo bác lại luận điệu “không thể làm nhục” để đập tan bộ
mặt kiểu cách của các nhà trí thức. Viết bài đó kỳ thực là tôi “cứu lấy mạng
sống của tôi ” (Hai Mươi Năm Trước).
Những trí thức tìm đến cái chết
nhiều phần vì không chịu bị làm nhục, bị dày vò quá sức chịu đựng về thể xác.
Trong gia đình Ba Kim, chính ông bị bắt bắt quỳ hằng giờ trên sàn đấu, bắt “đi
máy bay phản lực ”, Tiêu San, vợ ông, bị bọn "tạo phản" quất dây da
bịt đồng vào mặt, hành hạ bà đủ trò trước khi bà nhắm mắt vì bệnh ung thư
(tháng 7.1972). Con cái Ba Kim bị đẩy đi công tác nông thôn, ở tít tắp những nơi
gọi là vùng sâu vùng xa. Gia đình nào vướng vào vòng Đại cách mạng văn hoá vô
sản thì số phận cũng tương tự như vậy. “Tôi nghe người con dâu đồng chí Chu Tín
Phương kể lại: bà Chu trước khi mất thường bị bọn đầu gấu lôi ra làm quả bóng
xô đi đẩy lại, đến nỗi mình mẩy mềm nhũn. Có người khuyên bà trốn đi, bà nói:
“Tôi mà trốn đi thì chúng nó lại hành hạ ông nhà tôi như thế thôi mà” (Thương
Nhớ Tiêu San). Nhà văn nổi tiếng Lão Xá cũng bị đánh đập, thượng cẳng chân hạ
cẳng tay. Vợ Lão Xá kể: “Tôi không thể nào quên được trong đêm khuya đã tự mình
lấy bông thấm nước, lau từng chút một những vết máu trên đầu, trên mình người
thân của tôi như thế nào, mà không rõ chuyện này ở đâu, tại sao lại ra nông nỗi
ấy…” (Lão Xá).
Đến như thân sinh nhà văn Giả
Bình Ao (mới nổi tiếng sau này), chỉ là một thầy giáo làng (một trí thức cấp
thôn xã) thôi, không biết cứng đầu thế nào mà cũng bị trấn áp, gia đình tan
nát. Giả Bình Ao cho một nhân vật của ông kể về những ngày ấy: “Ba năm trước,
nổi lên một cơn gió, phải học tập Tiểu Cận Trang, kéo hết người ở ngoài đồng
về, suốt ngày môi đỏ răng trắng nói a, hát a. Anh nhà tôi cáu kỉnh nói trước
hội nghị xã viên: “Nông dân mình bới đất kiếm cơm, khua môi múa mép làm gì? Ăn
ngũ cốc không tiêu được hay sao mà bày ra cái trò vớ vẩn ấy”, hôm sau liền bị
bắt. Trong trại giam họ đánh đập anh ấy, đánh gãy cả chân, vết thương bị nhiễm
trùng, rồi anh ấy chết”. Trong chuyện, người vợ kiên trì minh oan cho chồng,
rốt cuộc bị các quan cấp xã cấp huyện trù dập, bị xã trưởng hiếp, tự tử mà chết.
Đấy là cái mà cách mạng vô sản
làm ra cho trí thức, lớn cũng như bé. Sau này, mọi tội do Đảng cộng sản gây ra
trong Đại cách mạng văn hoá vô sản đều được vẫn cái đảng cộng sản ấy đổ tuốt
tuột vào cái thùng rác tiện lợi là phái “tạo phản” .
Nhưng không phải mọi trí thức đều
tuẫn tiết. Phần lớn trí thức không làm thế. Không phải họ không có dũng khí.
Cũng không phải họ không biết chán chường. Một trong những lý do khiến họ phải
cố gắng sống sót là họ đã ăn phải “cháo lú” (từ của Ba Kim).
Ba Kim tâm sự: “Những ngày ấy,
cuộc sống ấy, quan hệ ấy giữa con người và con người, thật là đen tối quá
chừng, giống như đang chịu tội giữa địa ngục vậy. Tôi lấy làm lạ, bấy giờ tôi
đã ăn cháo lú gì mà có thể giơ hai tay lên, hô to đả đảo mình, cam lòng nhận
tội, để cho kẻ khác tước đoạt quyền làm người của mình”. “Không phải là tôi
đang nói mê. Năm 1966 quả thực tôi đã làm thế. Cháo lú đã làm tôi mê suốt mười
năm. Năm 1983, nó lại định đưa tôi vào cảnh mộng một lần nữa, nhưng cái phép
quỷ quái quen thuộc đã mất tác dụng làm cho tôi lú lẫn lần nữa” (Hai Mươi Năm
Trước).
Sao mà giống những gì xảy ra ở
Bắc Việt Nam đến thế! Hãy nhớ lại thời kỳ cải cách ruộng đất mà xem. Có phải là
như thế không?
Nói cho đúng, sao mà Bắc Việt Nam
giống Trung Quốc đến thế!
Ở Việt Nam, trong những cuộc
chỉnh huấn bắt đầu từ năm 1950 (sau khi biên giới Việt Trung được khai thông)
và kéo dài nhiều thập niên sau, cứ thỉnh thoảng lại nổi lên một đợt, hiện tượng
ăn phải “cháo lú” y hệt ở Trung Quốc. Người ta tự hành hạ mình bằng cách tự
kiểm thảo, không phải là nhìn lại quá khứ để rút kinh nghiệm, mà là tự kiểm
thảo (trước Đảng, có nghĩa là trước cấp trên) theo cách biểu diễn, bằng một sự
thành khẩn không tin được, tức là thổi phồng những khuyết điểm của mình càng
lớn càng tốt, rồi tự xỉ vả bằng những lời lẽ xúc phạm nặng nề nhất, thậm chí
bịa đặt ra những tội lỗi mình không hề có đối với cách mạng, tự mình đả đảo
mình (giống như Ba Kim). Đi xem phim Bạch Mao Nữ (Cô Gái Tóc Trắng), người ta
bắn lên màn ảnh khi thấy tên địa chủ xuất hiện. Đi xem kịch người ta ném đá vào
diễn viên đóng vai cường hào. Tất cả những cái đó được nhập cảng ồ ạt từ Trung
Quốc đỏ. Thứ “cháo lú” này tôi đã được thấy tác dụng của nó như thế nào. Khi
một đám đông đã ăn phải “cháo lú” tức thì xuất hiện sự “lên đồng tập thể”. Con
người bỗng chốc mất hết tính người, tính thú ào ào nổi lên. Cuộc tổng đàn áp,
tổng giết chóc, không cần tới những người cộng sản nữa, dân chúng khắc tự giết
lẫn nhau, là đủ.
Nhưng cũng lại phải nói cho công
bằng, về đại thể, mức độ tàn bạo của những cuộc “vận động” cách mạng do đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo quả có thấp hơn ở Trung Quốc nhiều, quy mô quả có
hẹp hơn. Đơn giản vì Bắc Việt Nam là nước nhỏ, cái gì ở đó cũng chỉ “tiểu”
thôi, chứ không thể “đại” (ở Trung Quốc đã Nhảy Vọt rồi người ta cũng phải thêm
Đại vào cơ, cho nó oách).
Khốn thay, số phận con người thì
ai cũng như ai, cách mạng đại hay cách mạng tiểu thì cũng thế, mỗi con người
chỉ có vỏn vẹn một cuộc đời để mà sống. Người Trung Quốc cũng y như người Việt
Nam, chẳng có gì khác nhau. Bi kịch cho một con người lớn chẳng kém bi kịch của
số đông chút nào, có khi còn lớn hơn. Bởi một con người là cái cụ thể, cái thấy
được, cái biết được, rõ ràng hơn bất kỳ con số thống kê nào.
Có người sẽ bảo: dân Trung Quốc
hơn một tỉ, Đại cách mạng văn hoá vô sản có làm chết đến mươi triệu không mà
rộn? Mà có chết vài mươi triệu hay hơn nữa thì cũng chưa tới một phần trăm cơ
mà. Xin thưa: một con người ở trong con số một triệu, hay mười triệu, vẫn là
một người như tôi với ông đây này, có vợ có con, có mẹ có cha, có bằng hữu, có
thân thuộc, có niềm vui nỗi buồn, có đau thương, có hạnh phúc…, có tất cả những
gì thuộc về con người “không xa lạ với tôi”, nói theo cách của Mác.
Hồi trước, khi còn ở trong nước,
cứ mỗi khi sơ kết hoặc tổng kết một đợt học tập do đảng chủ trương, thì cán bộ
phải viết thu hoạch, tức là viết ra giấy những gì mình đã học được. Tôi bỗng
nảy ra ý muốn viết ra cái thu hoạch của tôi sau khi đọc Tuỳ Tưởng Lục.
Vậy, tôi đã thu hoạch được gì?
Một là, xã hội cộng sản bao giờ
cũng thù nghịch đối với trí tuệ .
Mọi thứ trí tuệ khác, ngoài chính
trị, chỉ có thể tồn tại với điều kiện làm tay sai trọn vẹn cho chính trị. Tay
sai mà không trọn vẹn không được, nhất định phải loại trừ. Đảng chủ trương như
thế, nhất quán là thế. Từ đây mà ra khẩu hiệu “chính trị là thống soái”. Tức là
chính trị đứng trên tất cả, chỉ huy tất cả. Đàng sau cái khẩu hiệu về địa vị ấy
là quyền lực thực sự của đảng cộng sản nói chung, của một lãnh tụ, hoặc của một
nhóm lãnh tụ, nói riêng. Không một kẻ nào khác được phép len chân vào đấy. Trí
tuệ không là cái gì hết. Đảng là ánh sáng soi đường, là lương tâm, là trí tuệ
nhân loại. Đảng độc tôn, độc đoán, mặc sức muốn làm gì thì làm. Không kẻ nào được
cãi lại. Thậm chí không được rón rén phát biểu ý kiến khác với gì đảng đang nói
(bởi vì lúc đảng nói A lúc đảng nói B, không thể biết đàng nào mà lần). Cứ
nghển cổ lên mà đánh hơi, rồi gió chiều nào theo chiều ấy, tha hồ tự do phát
biểu ý kiến. Trong một xã hội khép kín như thế, đảng cộng sản có làm điều gì
sai đến mấy thì cả xã hội cũng phải chịu. Người dân không còn quyền gì khác
ngoài quyền được cúi đầu vâng lệnh và xưng tụng công đức kẻ cai trị. Cũng từ
đây mà ra cái sự tung hô chủ nghĩa Mác-Lênin là vô địch, là bách chiến bách
thắng, là chân lý vĩnh cửu, tồn tại muôn đời. Nền chuyên chế được thiết lập thì
cũng là lúc lưỡi gỗ lên ngôi. Khi toàn bộ phương tiện truyền thông trong xã hội
được vận dụng để phục vụ kẻ cai trị thì người dân ắt bị đẩy vào tình trạng mụ
mẫm.
Về tình hình này, Ba Kim tả:
“Nhưng tôi năm 1970 và tôi năm 1967-1968 không còn là một người nữa. Từ tháng 9
năm 1966 trở về sau, dưới sự uy hiếp và lãnh đạo bằng roi da của phái "tạo
phản", tôi hoàn toàn suy nghĩ bằng đầu óc người khác; người khác gào “Đả
đảo Ba Kim!”, tôi cũng giơ tay hưởng ứng”. “Càng nghĩ càng thấy phái "tạo
phản" nói phải, càng nghĩ càng thấy mình có tội. Nói tôi là “hứa tử hiển
tôn” của giai cấp địa chủ, tôi nhận. Nói tôi viết Dòng Nước Xiết là “dựng bia,
lập truyện” cho giai cấp địa chủ, tôi cũng nhận. Năm 1970, chúng tôi xuống lao
động ở nông thôn 3 năm, bị lôi ra ruộng để cùng bị đấu với địa chủ ở đó, tôi
cũng cúi đầu nhận tội”.”Năm 1967 trở đi, tinh thần và diện mạo tôi khác hẳn.
Trong tâm linh tôi có cái gì tích luỹ được từ trước tôi bỏ sạch. Tôi ưỡn ngực
tiếp thu vô điều kiện mọi chỉ thị của phái "tạo phản". Về sau tôi tự
phân tích nói là ăn phải bùa mê thuốc lú, tôi bị thôi miên, nên không hay biết
gì nữa. Kỳ thực tôi chưa đào sâu đấy thôi. Trong khoảng hai năm ấy, những khi
tôi thành khẩn bái mộ thần linh, bên tai tôi lúc nào cũng văng vẳng một tiếng
nói nhân từ :”Tin thần linh thì cả nhà sẽ được cứu”. Nguyên thuỷ chung tôi vẫn
giữ trong đầu cái triết lý “bảo toàn tính mạng” “Lúc ấy, tôi cho rằng mình có
tội thì cách chuộc tội là thật sự cải tạo, cách cải tạo là cứ thực hiện đúng
từng câu mọi huấn thị, mệnh lệnh, quyết nghị của phái "tạo phản"
(Mười Năm, Một Giấc Mộng). Món “cháo lú” được nấu kỹ theo đúng tinh thần “chính
trị là thống soái” đem đến kết quả là thế.
Một tình hình tương tự người Việt
Nam đã được thấy trong cải cách ruộng đất, ở cuộc vận động trí thức và các thứ
đám đông khác đánh “hội đồng” nhóm "Nhân văn - Giai phẩm". Cái khác
là nhóm "Nhân văn - Giai phẩm" còn dám nho nhoe đòi “trả văn nghệ cho
văn nghệ sĩ”, chứ Ba Kim và nhiều người bạn ông thì chưa kịp đòi gì. Trường hợp
của Ba Kim chắc giống như trường hợp Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo… và một
số trí thức khác ở miền Bắc. Không thuộc nhóm "Nhân văn - Giai phẩm"
họ cũng bị trấn áp theo lối nhân thể.
Cái sự trấn áp bằng bất cứ phương
tiện gì, bằng bất cứ giá nào, đối với những trí tuệ không giống mình, được gọi
một cách miệt thị là ngoại lai, tạo ra bùa mê thuốc lú cho cả xã hội. Xét đến
cội nguồn của nó ta thấy đó chính là sự sợ hãi của nền chuyên chế đối với trí
tuệ. Nếu trí tuệ sống thì quyền lực độc tôn không thể tồn tại. “Kẻ nào suy nghĩ
khác ta, kẻ đó chống lại ta”, đó là lời Lê Duẩn. Nhưng đó cũng là chủ trương
của mọi chế độ độc tài chuyên chế, phát xít hay cộng sản thì cũng vậy. Mặc dầu
bị ăn “cháo lú”, nhà văn Ba Kim có lúc cũng tỉnh ra. Ông viết: “Những người cho
chúng tôi là nô lệ, cầm roi da huơ huơ trước mặt chúng tôi, thật ra chúng chẳng
có cái quái gì hết! Chúng không biết ngày mai chúng sẽ ra sao nữa. Có lẽ có
người thấy tôi nghĩ như thế cho là kỳ quặc. Thật ra cũng dễ lý giải thôi. Mấy
mươi năm tôi viết sách làm văn, cuối cùng còn có được một chút “trí thức”; bây
giờ thì tôi biết rõ vì sao “lũ bốn tên” hận thù “trí thức” làm vậy! Dù chỉ với
một chút “trí thức”, “mày” cũng còn thấy được khe hở của “tao”, huống chi là
“phần tử trí thức”, huống chi là kẻ có văn hoá!” (Mười Năm, Một Giấc Mộng). Có
coi mọi người dưới quyền cai trị của mình là nô lệ thì mới có tình trạng
“Trương Xuân Kiều tuyên bố công khai không cho tôi sáng tác nữa”, là Ba Kim hết
được viết. Trương Xuân Kiều không cần phải là trí thức giỏi hơn, sáng suốt hơn
Ba Kim. Trương Xuân Kiều chỉ cần là Đảng.
Trong Tuỳ Tưởng Lục, như nhận xét
ở trên, Ba Kim còn chưa dám nói thẳng điều ông nghĩ. Ông ngần ngại, ông do dự.
Bởi vì ông vẫn còn nằm trong vòng kiềm toả của chế độ. Ông còn sợ, nói thẳng ra
là như thế. Nhưng ta chỉ cần thay “lũ bốn tên” bằng “chế độ hiện hành” là bức
tranh xã hội mà ông vẽ ra trong Tuỳ Tưởng Lục lập tức có đủ màu sắc chân thực,
sinh động. Gần đây có tin nhà cầm quyền Trung Quốc định đúc tượng đồng của ông
trong lúc ông còn sống. Phải chăng đó cũng là cách để cho Ba Kim ngậm miệng?
Nhà cầm quyền một xã hội như thế,
bất kể ở nước nào, không chỉ sợ những “tư tưởng thù địch” hiện đại, mà cả những
nhà tư tưởng cổ xưa. Hãy xem báo Tiền Phong, số ra ngày 16.8.1973 tại Hà Nội
(tức là trong lúc Đại cách mạng văn hoá vô sản còn đang hoành hành ở Trung
Quốc) với bài: “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo” thì thấy. Bài báo
viết: “… cần phải khẳng định dứt khoát rằng: lễ giáo phong kiến, đặc biệt là lễ
giáo Khổng tử, không có một chút nhân tố tích cực nào nữa... Chúng chỉ là những
xiềng xích những độc hại… Là thế hệ thanh niên của thời đại Hồ Chí Minh, chúng
ta đang sống, chiến đấu, lao động, học tập vì độc lập tự do của Tổ quốc và chủ
nghĩa xã hội, chúng ta phải bảo vệ sự sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính
vì thế mà chúng ta không thể dung hoà được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng
phản động và tư tưởng bảo thủ của nó. Vì sự nghiệp cách mạng, chúng ta phải kiên
trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét
sạch những đống rác vậy”. Tác giả Nguyễn Thanh Dương, tổng biên tập báo, dưới
tên ký là Thanh Bình, đã viết đúng như thế. Khi có người hỏi tại sao ông ta lại
đánh cả Khổng giáo, thì Nguyễn Thanh Dương trả lời: “Tôi viết theo chủ trương
của trên. Tôi chỉ làm nhiệm vụ mở đầu, các báo và tạp chí khác đang được lệnh
viết tiếp. Đây là một chiến dịch do trên chỉ đạo đấy…” .
“Trên” ở đây là Lê Duẩn, Lê Đức
Thọ. “Trên” của “trên” là Quang Minh Nhật báo ở bên Tàu. Tờ này đăng một bài
với nội dung y hệt, nhưng sớm hơn tờ Tiền Phong ở Việt Nam ít ngày.
Với những người cầm quyền như
thế, chỉ có một tư tưởng được phép sống, được toàn quyền thống trị, là tư tưởng
Mác-Lê, hay, lại nói cho đúng hơn, tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tư tưởng Lê Duẩn, hoặc, lạy Chúa tôi, tư tưởng Nông Đức Mạnh...
Hai là, xã hội cộng sản là một xã
hội trái tự nhiên.
Bây giờ thì ai cũng biết rằng cái
gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa là một sản phẩm thuần tuý tư biện, từ Mác. Nó
không phải là một xã hội tự nhiên thành. Nói nôm, là một xã hội bịa đặt. Kể ra
nghe cái luận điểm rằng loài người ngu tối trước kia chỉ biết cúi đầu chép sử,
nay đã đến lúc nó đứng dậy tự làm ra lịch sử cho mình, thì khoái cái con ráy
lắm. Khốn nỗi, tự nhiên có quy luật của nó, không phải muốn thế nào cũng được.
Nước thì phải chảy xuôi. Thứ sản phẩm bịa đặt muốn tồn tại được phải nhờ vào
dối trá. Thành thử trong cái xã hội đó kẻ cầm quyền phải thay đổi mọi khái niệm
thông thường vốn có của loài người, tạo ra một hệ khái niệm khác hẳn để biện
minh cho việc làm của nó. Không thể lấy sự hiểu thông thường vốn dĩ có ở các xã
hội thông thường để hiểu hắn ta nói cái gì. Chẳng hạn, về tự do báo chí, theo
cách hiểu của tổng bí thư Nông Đức Mạnh là: “Báo chí viết gì, nói gì, thông tin
gì, bao giờ cũng phải vì lợi ích của cách mạng, của đất nước, của Đảng” (Nói
tại Thông tấn xã Việt Nam, tháng 6.2003). Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam Vũ
Văn Hiển trước đó cũng đã nhấn mạnh với các hội viên của ông ta: “Nếu nói đến
tự do báo chí ở Việt Nam thì cần hiểu đó là việc tự do hoạt động để phục vụ
Đảng” (báo Nhân Dân, 20.6.2002). Những lời nói như thế ở các xã hội thông
thường chỉ có thể là những lời nói mê nói sảng.
Trong một xã hội chuyên chế, mà xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội như thế, những định chế của nó chỉ còn cái tên là giống với những định chế của các xã hội khác, chứ chúng, hoặc rỗng ruột, hoặc được thay thế bằng nội dung khác hẳn, thậm chí trái ngược.
Trong một xã hội chuyên chế, mà xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội như thế, những định chế của nó chỉ còn cái tên là giống với những định chế của các xã hội khác, chứ chúng, hoặc rỗng ruột, hoặc được thay thế bằng nội dung khác hẳn, thậm chí trái ngược.
Trải qua Đại cách mạng văn hoá vô
sản, Ba Kim than thở: “Nước chúng ta có Hiến pháp 1954, quyền công dân của tôi
đáng ra phải được Hiến pháp bảo vệ. Hiến pháp ấy đã được toàn thể đại biểu bỏ
phiếu thông qua, trong đó có lá phiếu của tôi… Nhưng đến khi đáng ra phải phát
huy tác dụng của nó thì chúng ta chẳng ai tìm thấy nó ở đâu cả, phảng phất như
nó chẳng hề tồn tại, hoặc giả là vô ích, không bằng báo chữ to. Hai mươi năm
trước, tôi đã bị nhốt “chuồng bò” như thế đấy. Hiến pháp đã mất tăm mất tích,
nhân quyền bị dày xéo. Tôi giơ cao quyển “sách đỏ ”, đọc to “chỉ thị tối cao”,
đang là người biến thành súc vật, mặc cho người ta phanh thây, xé xác”.
Tội nghiệp cho Ba Kim quá!
Ba là, xã hội cộng sản là một xã
hội đầy bất trắc.
Nhìn bề ngoài, đôi khi người ta
nhầm: cái xã hội ấy có vẻ ổn định đáo để. Lấy Bắc Hàn làm thí dụ. Ở đó không có
lộn xộn – không đảo chính, không đình công, không biểu tình. Dân chúng im re,
lúc nào cũng sẵn sàng rầm rập đồng ca những bài ca ngợi Kim tướng quân (tức là
ông Kim Nhật Thành, Kim Bố), hoặc ca ngợi lãnh tụ vĩ đại (Kim Chính Nhật, Kim
Con). Dân sống trong sự sáng tạo không ngừng, khi gần chết đói, họ phát hiện cỏ
cho trâu bò ăn cũng muối dưa được, chẳng kém gì món Kim Chi. Cho đến khi hàng
triệu người chết đói thực sự, xã hội Bắc Hàn vẫn “ổn định”. Khi thấy dân chúng
Bắc Hàn không còn cái gì mà ăn nữa, có cơ nổi loạn vì đói quá hoá liều, thì
lãnh tụ Kim Con bèn mang vũ khí nguyên tử ra doạ cả thế giới: “Chúng mày không
viện trợ cái ăn cho nước ông thì ông cho nổ bom nguyên tử đây này”. Bom nguyên
tử ở Bắc Hàn chưa chắc đã ném được ở đâu xa, điều chắc chắn là nó sẽ nổ được,
ngay tại bệ phóng, ở trên đất Bắc Hàn. Nhưng như thế thì Nhật và Nam Hàn cũng
đã lĩnh đủ tai hoạ phóng xạ. Trước lời đe doạ ấy chỉ có Trung Quốc là bình chân
như vại, chắc còn tin ở lời dạy của Mao Xếnh Xáng: “Chiến tranh có thể làm chết
vài chục triệu người Trung Quốc, nhưng bọn đế quốc rồi sẽ bại, Trung Quốc sẽ
tất thắng”.
Xin đừng nghĩ rằng ở Bắc Hàn
không có Hiến pháp, không có pháp luật. Có cả đấy, có hết. Chỉ có thừa chứ
không thiếu.
Cái gọi là ổn định xã hội ở các
nước gọi là xã hội chủ nghĩa, được thực hiện bằng dùi cui, về cơ bản là nhà tù,
trước hết, và trong nội dung của nó, là ổn định quyền lực. Để ổn định một thứ
quyền lực không hình thành bởi sự lựa chọn của các thành viên của xã hội, tức
là dân chúng, thì không thể nào đặt ra được những định chế ổn định, mà phải
thay đổi chúng xoành xoạch, đặng đối phó với mọi biến chuyển. Cái gọi là Hiến
pháp mà Ba Kim tin rằng “đã được toàn thể đại biểu bỏ phiếu thông qua, trong đó
có lá phiếu của tôi” thế tất chỉ có thể là bánh vẽ.
Câu nói cửa miệng “chính quyền
của dân, do dân, vì dân ” của các quan cách mạng không bao giờ được nhân dân
coi là lời nói thật. Khi nhà cầm quyền – lúc này là đảng cộng sản, lúc khác là
một nhúm người cơ hội nhân danh đảng cộng sản – thấy cần phải thay đổi, hoặc
giải thích xuyên tạc điều này điều nọ trong Hiến pháp, thì nó chỉ cần ra một
nghị quyết là mọi cái lại lộn tùng phèo. Cho nên mới có hiện tượng hôm nay Lâm
Bưu - người học trò của Mao chủ tịch, người kế vị xứng đáng của Mao chủ tịch –
ra mọi chỉ thị bắt cả xã hội tuân theo, được ca ngợi rầm trời, mai đã trở thành
kẻ cầm đầu “lũ bốn tên” bị nguyền rủa hết nước hết cái, rồi chết bất đắc kỳ tử
trên đường chạy trốn. Chuyện Lưu Thiếu Kỳ, trong khi còn nguyên chức danh chủ
tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, “yên tâm” nằm dài dài trong ngục cho đến
khi biến thành một thây ma thối rữa, là chuyện bình thường ở cái xã hội đó, nói
gì đến Ba Kim.
Tôi có kinh nghiệm cá nhân trong
chuyện này. Một năm sau khi Mao Trạch Đông khởi lên Đại cách mạng văn hoá vô
sản ở Trung Quốc, hoàng đế Lê Duẩn chưa tuyên bố Tiểu cách mạng văn hoá vô sản,
tôi lúc ấy chưa kịp chống đảng cộng sản, chỉ mới tỏ ra khó chịu với nó mà thôi,
thì đã bị nó bỏ tù rồi. Chắc hẳn nó bỏ tù tôi là vì trong khi không bằng lòng
nó, tôi đã trót dại nói ra ở đâu đó, với ai đó, mà nó nghe thấy qua kẻ nào đó,
nó được kẻ nào đó báo cáo, thế là chẳng cần đối chiếu việc làm (ở đây là lời
nói) có vi phạm Hiến pháp và pháp luật hay không, nó cho tôi ở chín năm liền tù
tì hết nhà tù này đến trại tập trung khác, không cần xét xử. Những bạn tù bị
tội như tôi nhiều vô số kế. Nhiều người trong họ không về nhà nữa mà nằm lại
trong các nghĩa trang lổn nhổn gò đống bên các trại.
Bây giờ, trong nước Việt Nam ổn
định, những công dân dám nghĩ tới tình trạng tụt hậu hiện tại và tiền đồ đen
tối của đất nước, dám phát biểu đôi điều, đúng sai không cần biết, lập tức bị
tống giam, rồi giải toà, xử án kín, hoặc không cần xử án. Tên của họ là: Nguyễn
Đình Huy, Phạm Thái, Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Thích Huyền Quang, Thích
Quảng Độ, Thích Tuệ Sĩ, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải, Hà Sĩ
Phu, Bùi Minh Quốc, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Vũ Cao Quận,
Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình …, và rất nhiều người khác nữa.
Mà chẳng cứ những người có ý muốn
hoặc đã có hành động đấu tranh cho dân chủ hoá cái xã hội trong đó mình đang
sống mới phải nơm nớp lo sợ sự trấn áp có thể giáng xuống đầu mình bất cứ lúc
nào. Ai cũng sợ. Không sợ là điếc không sợ súng. Hoặc ăn quá nhiều “cháo lú”
nên tưởng tai vạ nào rồi cũng chừa mình ra. Bởi vì mình là người được đảng tin
tưởng chẳng hạn. Ba Kim thú nhận ông đã từng có ý nghĩ như thế.
Đảng cộng sản sợ dân chủ hơn sợ
ma nhiều. Đảng thừa thông minh để biết rằng dân chủ hoá xã hội có nhiều cách,
nhưng cách nào rồi cũng dẫn tới kết cục bi thảm cho những kẻ quen ăn trên ngồi
trốc nơi “đỉnh cao trí tuệ”. Vì thế đảng cầm quyền phải tìm cách chống lại.
Cách chống tốt nhất là cho các công dân biết họ chỉ là những tù nhân dự khuyết.
Nhiều người chỉ nhìn thấy sức
mạnh bạo lực của Đảng cộng sản mà không nhìn thấy nỗi sợ hãi được giấu kín sau
bức bình phong dữ tợn của nó. Nó sợ những tư tưởng dân chủ đến nỗi cấm người ta
không được viết trên vòng hoa phúng điếu tướng Trần Độ, một công thần khai quốc
của Đảng hai chữ “vô cùng”, trong dòng chữ “vô cùng thương tiếc” theo thông
tục.
Dựa trên sức mạnh của bạo lực
được trả lương để bảo vệ chế độ, nhà nước xã hội chủ nghĩa của Đảng cộng sản sẽ
còn tiếp tục đàn áp những công dân đòi dân chủ chừng nào nhà nước đó còn chưa
trút hơi cuối cùng.
Một xã hội phi nhân bản không vì
con người như thế không thể có tương lai.
Bây giờ nói đến xã hội xã hội chủ
nghĩa có thể phát triển tốt là người ta dẫn Trung Quốc ra. Trung Quốc quả đang
có những bước tiến rất dài trong phát triển kinh tế, chủ yếu dựa vào biện pháp
khuyến khích phát triển tư doanh, là cái mà trước kia họ chống đến cùng. Điều
đó chẳng hề có nghĩa là nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi trên con đường xây
dựng cái chủ nghĩa xã hội nọ . Vì chẳng ai nhìn thấy bóng dáng nó đâu ở chân
trời tít tắp. Các ông Con Trời bèn khẳng định rằng đúng thế, ta chưa thấy được
xã hội cộng sản bằng mắt thường, nhưng dưới sự lãnh đạo duy nhất đúng đắn và vô
cùng sáng suốt của ban lãnh đạo đảng hiện tại, cái xã hội mơ ước ấy sẽ trở
thành hiện thực sau… một thế kỷ. Tức là vào lúc chẳng có ai trong những người
nói và những người nghe hôm nay còn sống. Bất cứ ông thầy bói tay mơ nào cũng có
quyền phán một lời tiên đoán tương tự. Ấy là chưa kể ban lãnh đạo đảng hiện tại
có bền vững lâu dài không, hay sẽ trở thành một “bè lũ ba tên” hoặc “bè lũ năm
tên rưỡi” vào một lúc nào đó. Ai dám nói chắc?
Cái mà chúng ta biết chắc là ở
Liên Xô, chủ nghĩa xã hội đã tồn tại và phát triển đến mức cao nhất nó mà có
thể đạt tới trong hơn hai phần ba thế kỷ, đã đưa Liên Xô trở thành một trong
hai cường quốc lớn nhất thế giới, thế mà rồi sụm đổ như một “người khổng lồ
chân đất sét” (từ của Lênin dùng để chỉ xã hội tư bản). Cái xã hội bị các nhà
mác-xít coi là bất toàn hoá ra không phải là cái chứng minh cho sự tồn tại cái
xã hội mà họ cho rằng hữu lý.
Con người chỉ là một cây sậy mềm
yếu, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ (Blaise Pascal, thế kỷ 17). Cho dù có phỉnh
nịnh, cưỡng bức nó ăn thứ “cháo lú” trộn lẫn với bạo lực, trước sau gì nó cũng
sẽ suy nghĩ đến điều phải nghĩ ra.
Như Ba Kim đi đến kết luận cho cái xã hội mà ông đang phải sống:
Như Ba Kim đi đến kết luận cho cái xã hội mà ông đang phải sống:
“Chúng ta mở miệng ra là nói “xã
hội mới”, nhưng cái xã hội mới ấy, chúng ta càng ngày càng không hiểu nó ra làm
sao cả, càng ngày càng thấy nó dễ sợ. Bạn bè, người này tiếp người kia, bị
quăng xuống vực thẳm trước tôi”.
“Và cả sau tôi nữa!”. Ông có nói
thêm lời tiên đoán như vậy cũng không sai.
nguồn:
https://www.facebook.com/thuhienvu222222/posts/10210708017960385
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét