Peter Hoffmann
Trần Ngọc Cư dịch
Khi Nazi đi bắt những người cộng sản,
tôi im lặng,
tôi có là cộng sản đâu.
tôi im lặng,
tôi có là cộng sản đâu.
Khi chúng giam những người dân chủ xã hội,
tôi im lặng,
tôi có theo dân chủ xã hội đâu.
tôi im lặng,
tôi có theo dân chủ xã hội đâu.
Khi chúng lùng những thành viên công đoàn,
tôi im lặng,
tôi có ở công đoàn nào đâu.
tôi im lặng,
tôi có ở công đoàn nào đâu.
Khi chúng đến bắt tôi,
thì chẳng còn ai,
để có thể đứng ra phản đối.
thì chẳng còn ai,
để có thể đứng ra phản đối.
Đó là những lời còn mãi của nhà thần học
Tin lành Martin Niemöller (1892-1984)
và lãnh đạo Giáo hội Thống hối, người cũng được nhắc đến trong bài điểm sách
dưới đây. Từng bầu cho Đảng Quốc xã, ủng hộ chính thể của Quốc trưởng và có
khuynh hướng bài Do Thái, song chỉ 4 năm sau khi Hitler lên cầm quyền ông đã
chuyển thành một người chống đối, bị giam cầm trong các trại tập trung, có thời
gian như một tù nhân riêng của Hitler, cho đến khi được lính Mỹ giải phóng.
Trong số những người Đức âm thầm chịu đựng chế độ Quốc xã, thậm chí tìm cách giành
được một vị trí nhiều ảnh hưởng trong đó để chống nó từ bên trong, nổi bật lên
hai nhóm: tướng lãnh và nhà thờ Tin lành, một có chỗ dựa là vũ khí quân sự, một
có chỗ dựa là vũ khí tinh thần. Phần lớn họ cuối cùng đều thiệt mạng. Song cuộc
đời họ cho thấy là khả năng ấy có thật chứ không phải một lời biện minh mệt
mỏi, rằng người ta phải đến gần cái Ác để ngăn chặn nó.
Phạm Thị Hoài
_________________
Khi Adolf Hitler xâm chiếm Ba Lan năm 1939, người Châu Âu vốn đã có một
truyền thống dùng vũ trang để chống lại nhà cầm quyền, từ đó họ học hỏi nhiều
kinh nghiệm. Tại những nước như Đan Mạch, Pháp, và Ba Lan, các phong trào có
thực lực đã xuất hiện chống lại việc chiếm đóng của Quốc xã. Nhưng chính trong
nước Đức, một cuộc chống đối tương đối nhỏ cũng phải vất vả lắm mới có thể bám
trụ và hiếm khi đặt ra một đe dọa nghiêm trọng nào cho chế độ Hitler.
Hầu hết mọi người Đức đều lo ngại trước hết cho chính sự sống còn của bản
thân mình và vì thế, khi thông tin bắt đầu rò rỉ về việc trục xuất người Do
Thái và các sự lạm quyền khác của Quốc xã, họ chỉ giấu kín bất cứ quan ngại nào
nếu có ở trong lòng. Dẫu sao, chỉ cần nhắc đến những vấn đề này cũng có thể
rước lấy án tử hình, cũng như nghe lén các đài nước ngoài và loan tải tin đồn.
Sự đe dọa của hình phạt nghiêm khắc rất có hiệu quả: Đảng Quốc xã bưng bít
thành công mọi thông tin từ ngoài vào đối với hầu hết người Đức, và bất cứ ai
biết được sự thật mà đâm ra ray rứt, thì người ấy sẽ chịu nhiều nguy hiểm do
việc hành động theo lương tâm của mình. Một thiểu số can trường tham gia kháng
chiến, ý thức một cách đau đớn rằng họ thiếu hẳn hậu thuẫn từ bên trong lẫn bên
ngoài, nhưng việc này không gây ngạc nhiên cho hầu hết những người chống chế
độ.
Tuy nhiên, những lý giải về lý do tại sao quá ít người
Đức nổi dậy chống Hitler và quá nhiều người Đức bám víu ông ta đến hơi thở cuối
cùng đã không dành chỗ cho những câu chuyện của những người Đức, nam cũng như
nữ, đã chống lại chế độ Quốc xã. Trong cuốn No Ordinary Men,
Elizabeth Sifton và Fritz Stern giúp điền vào chỗ trống này bằng cách ghi chép
các sự kiện liên quan cuộc đời của hai thành viên hàng đầu của kháng chiến Đức:
nhà thần học nổi tiếng Dietrich Bonhoeffer và người anh rể ít tiếng tăm hơn,
luật gia Hans von Dohnanyi. Trong khi kể về Bonhoeffer và Dohnanyi, cuốn sách
đã trình bày một bức tranh rất hấp dẫn về làn sóng ngầm chống Quốc xã. Trong
nhiều nhận xét sâu sắc được đưa ra, có lẽ điều quan trọng nhất là, mặc dù những
người chống Hitler thường có động cơ chính trị và chiến lược không liên quan
đến chủ nghĩa bài Do Thái của Quốc xã, nhưng những nhân vật phản kháng quan
trọng nhất ở đây được thúc đẩy chủ yếu (hay chí ít một phần lớn) do cùng có một
cảm nhận chung về sự hãi hùng đối với cuộc tàn sát tập thể nhắm vào người Do
Thái.
CHẶN ĐỨNG BÁNH XE
Cả Bonhoeffer và Dohnanyi đều chống đối chế độ Quốc xã từ đầu, nhưng sự
xung đột của Bonhoeffer với Đảng Quốc xã là công khai hơn và vì thế ngày nay
được nhiều người nhớ đến hơn. Được sinh ra trong một gia đình nổi tiếng tại
Berlin, Bonhoeffer quyết định theo đuổi sự nghiệp của một mục sư từ khi mới 14
tuổi. Sifton và Stern gợi ý rằng ngoài ảnh hưởng của phía gia đình bên mẹ ông
(cả ông ngoại và ông cố ngoại đều là mục sư), Bonhoeffer có lẽ đã được thu hút
đến một cuộc đời mục vụ để phản ứng lại tình trạng “bấp bênh đạo lý” và “bất ổn
tâm linh” vốn là đặc tính của những năm sau Thế chiến I. Về sau, Bonhoeffer đã
học một năm tại Chủng viện Thần học Hợp nhất [the Union Theological Seminary]
tại New York dưới sự chỉ giáo của triết gia Reinhold Niebuhr (vị này lại là cha
của đồng tác giả Sifton).
Vào năm 1933, khi Hitler được chỉ định làm Thủ tướng
Đức, Bonhoeffer đã là một mục sư được thụ phong có tiếng tăm nhờ những
tác phẩm thần học của mình. Lúc bấy giờ, Giáo hội Luther Đức, mà ông là một
thành viên, không có một lập trường thống nhất về Chủ nghĩa Quốc xã. Một phe có
thế lực trong Giáo hội, mà các thành viên tự xưng là “Những người Thiên chúa
giáo Đức” ủng hộ cái được coi là một phiên bản Thiên chúa giáo mang đặc tính
Đức, công bố một “Giê-su của chủng tộc Aryan” và hậu thuẫn chủ nghĩa bài Do của
Đảng Quốc xã. Hầu hết các mục sư Đức không phải là những thành phần Quốc xã cực
đoan, mà là những người theo chủ nghĩa dân tộc, trung thành với bất cứ chính
phủ nào đang cầm quyền. Bonhoeffer bác bỏ cả hai lập trường. Chỉ hai ngày sau khi
Hitler được bổ nhiệm, Bonhoeffer đã đọc một diễn từ trên đài phát thanh cảnh
báo rằng nếu một lãnh tụ đầy quyền lực (Führer) như Hitler vi phạm niềm
tin của nhân dân, ông ta có “nguy cơ trở thành một tên lừa mị vĩ đại” (Verführer).
Trong khi đó, các đảng viên Quốc xã phát động một nỗ lực quan trọng nhằm xác
lập quyền kiểm soát việc điều hành Giáo hội và thanh lọc các “phần tử
phi-Aryan” [non-Aryans] khỏi hàng giáo phẩm.
Không lâu sau bài diễn từ đó, Bonhoeffer cho xuất bản
“Giáo hội và Vấn đề Do Thái,” một tiểu luận tranh luận rằng Giáo hội Đức có
“một bổn phận vô điều kiện đối với các nạn nhân của bất cứ một cuộc sắp xếp
trật tự xã hội nào.” Mặc dù vai trò của Giáo hội “không phải là ca ngợi hay chỉ
trích luật lệ nhà nước,” ông viết, Giáo hội phải chất vấn xem các hành động của
nhà nước có chính đáng hay không. Hơn nữa, Giáo hội có thể có bổn phận
không những “băng bó vết thương của những người ngã gục dưới bánh xe…mà đôi khi
phải chặn đứng bánh xe ấy lại” bằng cách vận động chính trị trực tiếp. Theo ngôn
từ của nhà thần học Thụy Sĩ Karl Barth, bài tiểu luận này đã làm cho Bonhoeffer
trở thành “mục sư đầu tiên và gần như duy nhất nắm bắt được và đối phó với vị
trí trung tâm của Judenfrage [Vấn đề Do Thái].” Vì không thể
cúi đầu sống theo điều mà ông coi là sự hèn nhát của Giáo hội Luther trước
những nỗ lực kiểm soát nó của Hitler, Bonhoeffer và mục sư bạn Martin Niemöller
đã dẫn đầu một nhóm gồm hơn 2.000 mục sư để thành lập một tổ chức mới gọi là
Giáo hội Thống hối.
Chẳng bao lâu, Bonhoeffer cũng từ bỏ nhóm này, vì cho
rằng các thành viên của nó còn quá e dè, không dám chống lại các cảm tình viên
và mật vụ Quốc xã đang tìm cách kiểm soát các Giáo hội Đức. Nhưng Gestapo có
vẻ tin rằng Giáo hội Thống hối đặt ra một mối đe dọa và bắt giữ khoảng 800 mục
sư của Giáo hội này năm 1937. Ba năm sau, Quốc xã cấm hẳn Bonhoeffer giảng đạo
hay phát biểu bất cứ điều gì trước công chúng.
Trong thời gian Bonhoeffer thử nghiệm những giới hạn của nỗ lực chống Quốc
xã thì Dohnanyi đang phục vụ trong hàng ngũ cao nhất của chế độ Quốc xã.
Dohnanyi, con trai của nhà soạn nhạc Hung Gia Lợi nổi tiếng Ernst von Dohnanyi
(và sau này là cha của nhạc trưởng lừng danh Christoph von Dohnanyi), đã lớn
lên ở Berlin và quen biết với gia đình Bonhoeffer từ thời thơ ấu. Trong thời
gian soạn luận án tiến sĩ luật tại Đại học Hamburg, Dohnanyi gặp và năm 1925
cưới Christine, chị của Bonhoeffer. Bốn năm sau, hai vợ chồng trở về Berlin,
tại đây Dohnanyi bắt đầu làm việc tại Bộ Tư pháp và lần lượt giữ những chức vụ
có uy tín. Năm 1933, ông trở thành trợ lý chính cho Bộ trưởng Tư pháp, Franz
Gürtner. Ghê tởm trước sự tàn bạo của Quốc xã, Dohnanyi đã dùng ưu thế của mình
để bắt đầu lập hồ sơ về những hành động phi pháp của chúng. Về sau ông đã khai
với những thẩm vấn viên Quốc xã là chính “sự độc đoán phi lý trong lãnh vực
pháp lý và các bản án của Quốc xã trong vấn đề Do Thái và các Giáo hội” đã thúc
đẩy ông chống lại chế độ.
Nhưng Dohnanyi còn đối diện nhiều rủi ro nghiêm trọng khác vì di sản huyết
thống của mình: ông có một người ông Do Thái. Như tất cả mọi công chức nhà
nước, Dohnanyi bị bắt buộc phải kê khai bằng chứng về dòng dõi Aryan của mình.
Tuy nhiên, Gürtner báo cho Hitler biết rằng Dohnanyi là trợ tá không thể thiếu,
do đó Hitler ra sắc lệnh cho phép Dohnanyi khỏi phải “chịu bất cứ một thiệt
thòi nào vì gốc gác chủng tộc của mình.” Để đảm bảo an toàn thêm cho Dohnanyi,
Gürtner đã bổ nhiệm ông làm thẩm phán tại toà án tối cao Đức, đưa ông ra khỏi
sự giám sát trực tiếp của Gestapo.
Sự tin tưởng của các đảng viên Quốc xã đối với Dohnanyi được đặt không đúng
chỗ. Ngay từ năm 1934, ông đã bắt đầu tích cực chống phá nhà nước Quốc xã: ngấm
ngầm giúp đỡ những người Do Thái mà ông quen biết hoặc chính họ tìm đến ông,
đồng thời dùng khả năng tiếp cận của mình để thu thập và sắp xếp những hồ sơ đồ
sộ về tội ác của chế độ. Năm 1939, Đô đốc Wilhelm Canaris, chỉ huy trưởng cơ
quan Abwehr, cánh tay phản gián của quân đội Đức, đã tuyển Dohnanyi vào làm
việc trong tổ chức của ông. Dưới sự chỉ huy của Canaris, một quan chức cũng
chống đối Hitler ngấm ngầm, Dohnanyi có điều kiện tiếp tục giúp đỡ người Do
Thái, trong vài trường hợp đã tác động để thuyên chuyển họ từ một trại tập
trung đặc biệt nguy hiểm đến một trại ít nguy hiểm hơn. Dohnanyi còn dùng địa
vị mới của mình để giúp nối kết các phần tử chống đối khác nhau trong hàng ngũ
sĩ quan Đức.
Đồng thời, Dohnanyi thường tìm sự cố vấn tâm linh của người em rể
Bonhoeffer; việc Dohnanyi tiếp tục phục vụ cho một chế độ đầy tội ác, dù đó chỉ
là một bình phong, cũng làm ông bất ổn tâm lý sâu sắc. Nhưng khoảng năm 1939,
cả hai anh em đã gặp nhau trên một quan điểm: thay vì sống trung thực với tín
lý của mình và công khai bày tỏ sự bất bình đối với các chính sách của chế độ,
người ta nên bám lấy một chức quyền khả dĩ uy tín nhất trong chế độ Quốc xã để
phá hoại nó từ bên trong.
Về phần mình, Bonhoeffer cũng lâm vào một tình trạng nan giải. Năm 1940,
ông có khả năng bị bắt nhập ngũ, và ông hết sức bất an với ý tưởng phải phục vụ
cho tập đoàn tội phạm Quốc xã trong bộ quân phục của mình. Nhưng ông coi việc
chống đối chiến tranh vì lý do lương tâm [conscientious objection] là một hành
vi tự sát, vì những người từ chối nhập ngũ thường bị xử tử. Sau khi đơn xin làm
tuyên úy quân đội của Bonhoeffer bị bác bỏ, Dohnanyi và các cộng sự của ông đã
tìm cách cho Bohoeffer được hoãn quân dịch bằng cách tuyển dụng ông làm liên
lạc viên dân sự cho lực lượng phản gián Abwehr. Bonhoeffer về sau đã trở thành
một thành viên chính thức của một tổ chức bí mật chống Quốc xã tích cực trong
hàng ngũ Abwehr. Thành viên của âm mưu này gồm cả Đô đốc Canaris; Tướng Hans
Oster, chỉ huy phó của tổ chức phản gián Abwehr; Ludwig Beck, cựu Tổng Tham mưu
trưởng quân đội Đức, và Helmuth James von Moltke, một sĩ quan Abwehr khác và là
một hậu duệ của thống chế lừng danh Helmuth von Moltke dưới thời Bismark — tất
cả đều kinh tởm việc Hitler đàn áp người Do Thái. Nhưng cũng như Bonhoefer và
Dohnanyi, họ quả quyết rằng những cơ may tốt nhất để chặn đứng Hitler nằm ở vị
trí cận kề nhất với những kẻ điều khiển quyền lực quốc gia, việc này đòi hỏi
một sự đồng lõa bất đắc dĩ với chế độ.
Có lẽ âm mưu có ý nghĩa nhất mà Bonhoeffer và Dohnanyi đã thai nghén trong
thời gian làm nhân viên của cơ quan phản gián Abwehr là nỗ lực tranh thủ hậu
thuẫn của Vương quốc Anh cho một cuộc đảo chánh. Tháng Năm 1942, Bonhoeffer
nhận được tin George Bell, Giám mục địa phận Chichester và là một nghị sĩ của
Thượng viện Anh, đang thăm viếng Thụy Điển. Bonhoeffer có quen biết Bell và vì
thế đã bay qua Stockholm để gặp ông ta. Ông cho vị Giám mục này hay rằng một
nhóm âm mưu có thanh thế tại Đức sẵn sàng lật đổ chế độ Quốc xã. Và Bonhoeffer
đã yêu cầu chính phủ Anh không nên coi thường cuộc đảo chánh có tiềm năng xảy
ra này và tránh khai thác lợi thế quân sự từ bất cứ một bất ổn nào có thể xảy
ra ở Đức trong trường hợp cuộc đảo chánh thành công.
Bell chuyển tin nhắn này đến Ngoại trưởng Anh, Anthony Eden. Nhưng Eden
không chịu đưa ra một cam kết nào dù trên giả thuyết, và với Thủ tướng Anh
Winston Churchill, Bell cũng không thể tiến xa hơn. Nhóm kháng chiến Đức đưa ra
những kêu gọi tương tự với các chính phủ nước ngoài khác nhưng cũng chẳng đi
đến đâu. Do đó, Bonhoeffer và Dohnanyi không còn mang một ảo tưởng nào về cơ
may thành công của mình, mặc dù trước đó họ cảm thấy cần phải cố gắng giành lấy
một sự động viên tinh thần nào đó, nếu không phải là sự hỗ trợ vật chất mà phe
Đồng minh đang dành cho mọi phong trào kháng chiến tại Châu Âu ngoại trừ ở Đức.
Căn cứ trên hậu thuẫn bền bỉ của dân chúng Đức dành cho Hitler, Bonhoeffer
và Dohnanyi cũng thừa hiểu những nguy hiểm mà hành động phản kháng sẽ mang đến
cho bản thân mình và gia đình mình. Như Sifton và Stern nhận xét, những người
này đã “hi sinh mọi điều tốt đẹp trong lãnh vực đời tư để chống lại cái ác
trong lãnh vực công.”
Chính trong tinh thần này mà năm 1942 Dohnanyi đã tổ chức đưa lậu 14 người
Do Thái từ Berlin sang Thụy Sĩ, ngụy trang họ như những nhân viên tình báo Đức,
việc này cho phép cả nhóm đi qua biên giới với sự chấp thuận của Heinrich
Himmler, trùm SS Đức. Nhưng đây là một nước cờ rốt cuộc đã đưa Dohnanyi đến tai
họa: tháng Tư 1943, chính quyền Quốc xã đã bắt giữ Dohnanyi và Bonhoeffer với
những cáo buộc về các vi phạm luật tiền tệ liên quan đến việc tài trợ cho điệp
vụ Thụy Sĩ nói trên.
Trong phần cuối của cuốn sách, Sifton và Stern mô tả thời gian tù kéo dài
gần hai năm của hai người, ghi nhận việc họ không chịu khai ra bất cứ một cộng
sự nào. Các tác giả mô tả việc Bonhoeffer và Dohnanyi, khi đối diện với những
cuộc thẩm vấn gắt gao, đã dựa vào trình độ pháp lý và biện chứng thâm hậu của
mình trong một hành vi phản kháng cuối cùng, nhằm bác bỏ những cáo buộc, đe
dọa, và cả những lời nhục mạ của Gestapo. Cả hai bị treo cổ tháng Tư 1945 — chỉ
vài tuần trước khi Hồng Quân chiếm Berlin.
CÁC CUỘC MƯU SÁT NHẮM VÀO HITLER
Chắc chắn là, không phải tất cả mọi người kháng chiến Đức đều coi việc Quốc
xã bách hại người Do Thái là động cơ thúc đẩy chính. Những tội ác khác của Quốc
xã cũng ghê gớm không kém: đấy là việc đình chỉ bản hiến pháp dân chủ của Đức,
việc hủy bỏ các quyền dân sự, việc hi sinh bừa bãi hàng triệu binh lính, việc
tàn sát tập thể tù binh Xô viết. Trong suốt cuộc chiến tranh, Henning von
Tresckow, một sĩ quan cao cấp, đã lên kế hoạch và âm mưu thực hiện nhiều cuộc
đảo chánh, chủ yếu là những nỗ lực ám sát Hitler. Không một vụ nào thành công,
và sau vụ mưu sát bất thành trong “Chiến dịch Valkyrie” tháng Bảy 1944,
Tresckow tự tử. Nhưng một năm trước khi chết, Tresckow đã thổ lộ với người bí
thư tin cẩn của mình rằng chính việc tàn sát tập thể người Do Thái đã thúc đẩy
ông và những người đồng mưu tìm cách giết Hitler.
Claus von Stauffenberg, viên đại tá đặt bom với ý định giết Hitler trong âm
mưu Valkerie, cũng khai việc tàn sát Do Thái là động lực chính đã thúc đẩy ông
hành động. Vào tháng Tư 1942, khi nói chuyện với một sĩ quan tham mưu tại Bộ Tư
lệnh tối cao, Stauffenberg đã bày tỏ phẫn nộ trước sự đối xử thô bạo với thường
dân trên đất Nga do Đức chiếm đóng, với việc tàn sát tập thể người Do Thái, và
việc bỏ đói tù binh Xô viết. Vào tháng Năm, khi nhận được báo cáo của các nhân
chứng về việc nhân viên SS đã tập trung người Do Thái tại một thị xã của
Ukraine, bắt họ tự đào huyệt, rồi xả súng bắn vào họ, Stauffenberg hạ quyết tâm
là Hitler cần phải bị trừ khử. “Chúng đang bắn giết hàng loạt người Do Thái,”
ông nói với một sĩ quan khác sau đó. “Những tội ác này không được phép tiếp diễn.”
Tresckow và Stauffenberg không phải là những nhân vật đơn độc bênh vực
người Do Thái: hồ sơ Gestapo còn sót lại trích dẫn từng trường hợp của 15 cá
nhân, trong số hàng chục người phản kháng tìm cách giết Hitler vào tháng Bảy
1944, đã khai với nhân viên thẩm vấn rằng họ chống lại chế độ Quốc xã vì chế độ
này đã bách hại người Do Thái. Sau hàng tháng liên tục thẩm vấn và tra tấn
những kẻ đồng mưu với họ, Gestapo kết luận rằng toàn bộ sự bất mãn bên trong
đối với ý thức hệ Quốc xã — đặc trưng của những người thuộc giới âm mưu phản
động – phơi bày rõ nét nhất trong lập trường của họ đối với Vấn đề Do Thái… Họ
ngoan cố giữ lấy lập trường phóng khoáng về việc phải ban bố trên nguyên tắc
cho người Do Thái một địa vị giống hệt đã dành cho mọi người Đức.
Tại sao các âm mưu ám sát Hitler từ năm 1938 đến 1944 luôn luôn thất bại?
Một lý do chủ yếu là, Quốc xã không hề nương tay trong việc đàn áp bất đồng
chính kiến bên trong nước Đức. Giữa những năm 1933 và 1945, các lực lượng Quốc
xã, sử dụng các thủ tục được nhà nước cho phép, đã hành quyết khoảng 77.000
người Đức về các tội chính trị và thủ tiêu vô số đối lập trong nước tại các
trại tập trung bất chấp mọi thủ tục pháp lý. Các toà án quân sự Đức hành quyết
khoảng 25.000 binh sĩ Đức. (Trong khi đó, các toà án quân sự Đồng minh có liên
quan đến Thế chiến II tuyên án chưa đến 300 vụ tử hình.) Bọn chỉ điểm Gestapo
thường xuyên cản trở các âm mưu thành lập liên minh của những người chống đối.
Đài phát thanh nằm trong đặc quyền kiểm soát của chính phủ; những người chống đối
chỉ còn một cách là sao chép và rải truyền đơn bằng tay, một phương pháp thiếu
hiệu quả, dễ bị cảnh sát phát hiện và ngăn chặn.
Nếu nội cái việc tán phát các truyền đơn chống Quốc xã đã là thậm khó, thì
việc lên kế hoạch ám sát Hitler thật không đơn giản chút nào. Tuy vậy, một số
âm mưu đã đến chỗ sắp thành công, và hầu hết đã gặp trở ngại chỉ vì rủi ro,
những trục trặc kỹ thuật, hay những thay đổi ngoài dự kiến trong lịch trình của
Hitler. Âm mưu Valkyrie, mà mục đích chủ yếu là cho nổ một trái bom đựng trong
cặp tài liệu, không phải là một trường hợp ngoại lệ. Đại tá Stauffenberg, người
chỉ còn một mắt và ba ngón tay trên một bàn tay sau thời gian phục vụ tại
Tunisia, là nhân vật then chốt đã bố trí vụ mưu sát này. Vào sáng ngày 20 tháng
Bảy, ông đến Tổng hành dinh Hang Sói của Hitler, trên mặt trận miền đông, và
sắp sửa châm ngòi hai gói thuốc nổ 1000 gram — một tiến trình bị làm gián đoạn
bởi một viên sĩ quan cần vụ; người này đến yêu cầu Stauffenberg phải khẩn
trương đến tham dự một cuộc họp giữa trưa với Hitler vốn đã bắt đầu. Với nguy
cơ bị phát hiện trước mắt, Stauffenburg cắt ngắn thủ tục châm ngòi và chạy đến
phòng họp với chỉ nửa phần của lượng thuốc nổ mà ông dự trù sử dụng. Quả bom
phát nổ, và Hitler lẽ ra có thể đã bị giết chết nếu cặp hồ sơ của Stauffenberg
được đặt – hay vẫn còn ở vị trí — đủ gần Hitler. Nhưng Stauffenberg đã rời khỏi
phòng họp (để lại cặp hồ sơ) để bay về Berlin, nơi ông là người chủ mưu duy
nhất có đủ quyết tâm và khả năng để điều hành giai đoạn kế tiếp của cuộc đảo
chánh theo kế hoạch.
Điều này cho thấy một sự thật kinh khủng là, tại Berlin ngoài Stauffenberg
ra, không còn ai đáng tin cậy để xúc tiến công việc tiếp theo sau vụ mưu sát.
Tresckow thì đang chiến đấu trên mặt trận miền đông, còn Bonhoeffer và Dohnnayi
thì đã bị Quốc xã bắt giam. Do đó, Stauffenberg đã đảm nhận một vai trò kép
không thể nào thực hiện được – cùng một lúc điều hành hai bộ phận của một âm
mưu đảo chánh tại hai nơi cách nhau đến 350 dặm [miles]. Việc ông là người duy
nhất có quyết tâm và can đảm để kinh qua toàn bộ nỗ lực này là nguyên nhân sâu
sắc và bi đát hơn cả đã dẫn đến sự thất bại của âm mưu này.
Trong những tuần lễ trước khi bị hành quyết, Dohnnayi đã đưa ra một gỉải
thích tương tự về sự thiếu thành công của những người chống đối: “Sự trì độn và
hèn nhát của những người có tài sản và có ảnh hưởng, và sự ngu đần của hầu hết
tầng lớp sĩ quan đã làm thất bại mọi nỗ lực phản kháng.” Cách suy nghĩ này, dĩ
nhiên, là điệp khúc thông thường của những người Đức phản kháng khi họ than
trách về tình trạng yếu kém của phong trào. “Kể từ khi Đức chiếm đóng Ba Lan,
ba trăm ngàn người Do Thái trên lãnh thổ này đã bị tàn sát một cách dã man
nhất,” theo một tờ rơi được phát tán năm 1942 bởi Hoa Hồng Trắng, một nhóm sinh
viên phản kháng tại Đại học Munich. “Nhân dân Đức một lần nữa đang ngủ một giấc
u mê, cho phép những tên tội phạm phát-xít này có đủ táo tợn và cơ hội để tiếp
tục hận thù – và chúng đang gieo rắc hận thù… Mọi người đều phạm tội, phạm tội,
phạm tội!” (Những lãnh đạo của nhóm này, Hans Scholl và em gái là Sophie
Scholl, bị chặt đầu một năm sau đó.)
Sifton và Stern kết thúc tác phẩm của mình bằng cách đề cập đến việc thậm
chí sau khi Quốc xã bị đánh bại, hai gia đình Bonhoeffer và Dohnanyi vẫn còn bị
bôi bác một cách công khai và chính thức vì là thân nhân của những tên phản
quốc. Tại Đức ngày nay, dĩ nhiên, hai nhân vật phản kháng này đã được chính
thức vinh danh. Nhưng sở dĩ các truyện kể về những người Đức, nam cũng như nữ,
thực tâm chống đối chế độ Quốc xã, vẫn chưa được phổ biến rộng rãi, một phần
cũng chỉ vì những câu chuyện này sẽ làm ô nhục những người không chịu chống
đối, hoặc vì quá lo lắng về sự sống còn của bản thân, hoặc thiếu cơ hội, thiếu
bản lãnh, hoặc vì đã tích cực hậu thuẫn chế độ Quốc xã. Vì thế, Sifton và Stern
đã có một cống hiến quan trọng là, khám phá cuộc đời của hai nhân vật đã chọn
một con đường mà, theo quan niệm của Dohnanyi, “một người tử tế tất yếu phải
đi.”
____________
PETER HOFFMANN là Giáo sư Sử học tại McGill University và là tác giả cuốn
sách vừa xuất bản gần đây, nhan đề Carl Goerdeler and the Jewish question,
1923-1942 (Carl Goerdeler và Vấn đề Do Thái, 1933-1942).
No Ordinary Man: Dietrich Bonhoeffer and Hans von
Dohnanyi, Resisters Against Hitler in Church and State (Những con người không tầm thường: Dietrich Bonhoeffer và Hans von
Dohnanyi, Những người chống Hitler ngay trong Giáo hội và Nhà nước) của
ELIZABETH SIFTON và FRITZ STERN. New York Review Books, 2013, 157 trang, giá
19.95 USD
Bản tiếng Việt © 2014 Trần Ngọc Cư & pro&contra
http://www.procontra.asia/?p=4880
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét