Nguyễn Đình Cống
Vừa qua Câu lạc bộ đọc sách báo của
chúng tôi mời được một diễn giả nói chuyện về tình hình thời sự. Ông MĐ là Tổng
biên tập một tờ báo lớn, đại biểu HĐND thành phố, ứng cử và được bầu tại phường
chúng tôi. Việc ông dành thời gian gần 2 giờ để nói chuyện, đối với CLB là một
vinh dự ít có. Ông nói về một số vấn đề thời sự trong nước và thế giới, trong đó
điều làm tôi quan tâm nhất là quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Theo ông MĐ,
tuy rằng có một vài sự kiện ở Biển Đông, nhưng quan hệ Việt Nam và Trung Quốc
đang rất tốt đẹp, đặc biệt sau chuyến thăm Trung Quốc của TT Phúc. Ông cho rằng
đường lối hòa bình mềm dẻo và tôn trọng luật pháp quốc tế của Đảng ta là sáng
suốt, phù hợp với tình hình quốc tế và truyền thống dân tộc. Ông viện dẫn các
sự kiện lịch sử các đời vua của Việt Nam vẫn thần phục và triều cống hoàng đế
Tàu, mà sự kiện đáng chú ý là Quang Trung, sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh
phải sang Bắc Kinh xin thần phục vua Khang Hy (!) nhà Thanh, cho đó là tấm
gương cần noi theo.
Đã lâu tôi không được nghe các buổi
nói chuyện của các cán bộ tuyên giáo. Trước đây, mỗi lần được nghe như thế tôi
chỉ tiếp thu một chiều, làm tôi phấn khởi, được biết thêm nhiều chuyện, được
sáng mắt sáng lòng. Nay thì khác, tôi nghe để biết quan điểm của diễn giả và
xem “sự ngụy biện” đến đâu.
Kết thúc trong
tiếng vỗ tay hoan hô, ông MĐ tỏ ra thỏa mãn, nán lại gặp gỡ và trao đổi thêm
với một vài người. Tôi cũng ở lại một chốc, được ông chào và hỏi: “Bác thấy tôi
trình bày thế nào”. Tôi trả lời: “Anh nói hay, cung cấp được một số thông tin
có giá trị, đa số bà con tham dự xem ra là thỏa mãn, riêng tôi thấy có vài chỗ
anh chỉ mới đề cập đến một phần của sự thật bên ngoài, bỏ mất phần khác quan
trọng hơn, riêng các lập luận, có hình thức chặt chẽ nhưng để ý ra thì thấy
khoảng một phần ba là sai vì phạm vào lỗi ngụy biện, đặc biệt phần nói về quan
hệ Việt Trung, về vua Quang Trung”. Đó là một nhận xét có tính phản biện mà
diễn giả không mong đợi. Tôi chờ một câu trả lời đại khái như: “Xin cám ơn bác,
xin bác chỉ cho biết những chỗ mà bác cho là phần quan trọng hơn, là sai vì
ngụy biện”. Nhưng không! Ông ta phản ứng bằng cách chống chế. Tôi biết không
thể tiếp tục trao đổi nên xin rút lui để ông đàm đạo với những người khác đang
chờ đợi những ý kiến quý báu của ông.
Về quan hệ với Trung Quốc, xin vạch
ra một số ngụy biện mà tuyên huấn của Đảng vẫn dùng để lừa nhân dân, mà tiếc
thay, một số người vẫn vui vẻ nghe theo (như tôi trước đây).
1. Nước ta bị thế kẹt là ở sát Trung Quốc, bị nó khống chế nhiều bề
Giáp với Trung Quốc không phải chỉ
có Việt Nam mà còn 13 nước khác như Mông Cổ, Bhutan, Nepal, Tajikistan,
Kazakstan, Nga, Myanmar, Ấn Độ v.v. Trừ Nga và Ấn Độ, các nước khác đều bé, thế
mà họ có chịu khuất phục Trung Quốc như Việt Nam đâu. Đặc biệt như Bhutan, có
biên giới khá dài với Trung Quốc mà không có quan hệ ngoại giao. Sự chịu khuất
phục do nguyên nhân địa lý chỉ là một phần rất rất nhỏ. Nguyên nhân chính là do
đường lối lãnh đạo. Nếu đổ cho nguyên nhân địa lý thì giải thích thế nào về các
nước như Bhutan, Nepal, Takjilistan... đều bé, Trung Quốc tuy có phá phách ít
nhiều nhưng cơ bản không làm họ khuất phục. Ta giáp với Trung Quốc từ khi lập
quốc đến giờ mà các đời vua phong kiến trước đây có chịu lép vế một bề như dưới
thời CS hay không.
2. Nước ta và Trung Quốc cùng ý thức hệ cộng sản, cùng chung lý tưởng XHCN
Đây là lập luận ngụy biện xảo trá.
Việc cùng ý thức hệ có phải là tiền định, là trời bắt phải thế đâu. Đó là do
con người lựa chọn. Từng đảng viên cộng sản khi vào Đảng thì có thề trung thành
với Đảng nhưng dân tộc này có bao giờ thề lệ thuộc vào Trung Quốc đâu. Ừ, mà
cùng ý thức hệ tốt đẹp thì cũng tạm được, nhưng ý thức hệ đó đã lạc hậu, đã
thối rữa mất rồi thì đeo bám làm gì. Trước đây chúng ta theo Liên Xô vì ý thức
hệ, thế mà Liên Xô sụp đổ rồi, trong lúc Trung Quốc cố dựa vào ý thức hệ để
thôn tính Việt Nam thì vin vào nó mà làm gì ngoài sự lừa bịp những người nhẹ dạ
cả tin. Mà hỏi xem, ngoài một số rất ít còn dựa vào ý thức hệ để trục lợi thì
đại đa số dân Việt Nam có còn tin gì vào nó nữa đâu. Hơn nữa ĐCS Trung Quốc chỉ
giữ lại cái tên và tổ chức chứ ý thức hệ CS cũng đã bị vứt bỏ từ lâu, chúng nó
chỉ dùng để lừa bịp những người khờ dại trong và ngoài nước. Cũng vì ý thức hệ
mà lãnh đạo ĐCS Việt Nam đã ký kết mật ước Thành Đô. Nhiều dư luận yêu cầu công
khai minh bạch cho toàn dân biết nội dung, thế mà đến nay lãnh đạo ĐCS vẫn giấu
kín.
3. Truyền thống tổ tiên vẫn thần phục Tàu
Đây là lối ngụy biện dùng một phần
sự thật để che dấu bản chất. Tổ tiên chúng ta bên ngoài tỏ ra thần phục Tàu chứ
chưa bao giờ chịu khuất phục (trừ bọn Ích Tắc, Chiêu Thống…). Như Nguyễn Trãi
đã viết: “Như Đại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã
riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải mấy triều Đinh, Lê, Lý, Trần dựng nền
độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương…”. Xét trong lịch sử,
trừ thời nhà Hồ bị nhà Minh cướp nước (Gần đây vì họ Hồ chính sách nặng phiền,
khiến trong nước lòng người oán giận. Quân Minh cuồng bạo thừa dịp hại dân.
Đảng nịnh mưu gian rắp tâm bán nước….Tát cạn nước Đông Hải khôn rửa sạch tanh
hôi. Chẻ hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác…), thì chưa thấy có triều đại nào
chịu khuất phục Trung Quốc về mọi mặt một cách nhục nhã như bây giờ. Ngay như
Quang Trung, ông cho người đóng thế mình sang bái phục Càn Long (không phải
Khang Hy) chỉ là cái mẹo sau khi đã đánh tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị. Đánh
thắng rồi mới cầu hòa chứ không phải cúi đầu xin chỉ thị về mọi việc lúc chưa
xẩy ra.
Việc nhất nhất thần phục Tàu Cộng đã
được cài sẵn vào gène, vào máu của CS Việt Nam từ khi mới thành lập. Chẳng thế
mà Trần Huy Liệu (người thay mặt Hồ Chí Minh vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo
Đại), vào khoảng năm 1949 có nói một câu nhận xét không tốt về Tàu (coi chừng
kẻ thù truyền kiếp của dân tộc) thì bị thất sủng ngay. Năm 1954, Phạm Văn Đồng
sau khi ký Hiệp định Genève đã khóc vì bị Chu Ân Lai ép buộc chia cắt đất nước
đến vĩ tuyến 17. Năm 1958, được tin Trung Quốc muốn độc chiếm các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Đồng ký Công hàm công nhận ngay (ngoài ông
Đồng ra hình như không có ai ủng hộ Trung Quốc nữa). Năm 1974 Hà Nội giữ hoàn
toàn im lặng để cho Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa do VNCH quản lý. Năm 1988 Lê
Đức Anh (Bộ trưởng Quốc phòng) ra lệnh cho các chiến sĩ đảo Gạc Ma không được
chống cự lính Trung Cộng, để toàn bộ 64 chiến sĩ bị sát hại, xác bị quăng xuống
biển. Năm 1991 Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười sang Thành Đô (Trung Quốc
không cho đến Bắc Kinh) cầu xin sự che chở và ký mật ước, cố xin gặp Đặng Tiểu
Bình nhưng hắn không cho gặp. Năm 2000 Lê Khả Phiêu ký cho Tàu một số đất ở
Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan. Những chuyện như vậy liệu có bao giờ xẩy ra
trong lịch sử của tổ tiên. Thế mà ĐCS cứ đưa tổ tiên ra làm bình phong để che
đậy.
4. Luận điệu gìn giữ hòa bình, tôn trọng luật pháp Quốc tế
Cứ mỗi lần Trung Quốc có hành động
ngang ngược ở biển Đông thì phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tuyên bố:
“Phản đối, đòi tôn trọng chủ quyền, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng hòa
bình, thương lượng, tôn trọng luật pháp quốc tế, không liên kết với nước khác
để chống nước thứ ba…”. Nghe quá hóa nhàm. Có những việc lớn, quan trọng mà sao
chỉ có đại diện Bộ Ngoại giao, hoặc quá lắm là một cá nhân cấp cao nào đó phát
biểu một cách dè dặt, Chính phủ, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước lặng im. Và
dân quá bức xúc biểu tình phản đối thì bị đàn áp. Ừ thì tôn trọng hòa bình, ta
không chủ động gây chiến, nhưng ai cấm những phát biểu mạnh mẽ phản đối của
Chính phủ, sao lại cấm dân biểu tình, sao không dám kiện ra Tòa án quốc tế như
Philippine. Luận điệu “mềm dẻo, hòa bình, tránh xung đột” chẳng qua để che giấu
một tâm trạng hèn yếu, không dám tin vào dân, chỉ muốn thần phục để vinh thân phì
gia.
5. Luận điểm: Về kinh tế ta phụ thuộc vào Tàu quá nhiều, nếu ta có những
đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền mà bị Tàu nổi giận cắt đứt mọi giao dịch
thương mại thì ta lâm vào khủng hoảng lớn
Tôi gọi đây là luận điểm chứ không
phải luận điệu vì xét ra có phần đúng. Nhưng có phải vì giao lưu hàng hóa mà để
cho Tàu vào chiếm cứ các vị trí xung yếu của đất nước, để người Tàu tràn ngập
các vùng quan trọng, để họ phá nát môi trường. Những nước như Mỹ, Đức, Nhật,
Úc… họ có làm như thế đối với các nước khác đâu. Việc để kinh tế, thương mại,
xây dựng của Việt Nam quá lệ thuuộc vào Tàu, để cho Tàu thực hiện các dự án lớn
làm hủy hoại môi trường là tội của những người lãnh đạo tham và ngu. Bây giờ đã
lỡ ra rồi thì không phải cứ cố trượt dài trên con đường sai lầm mà phải tìm
cách khắc phục. Tuy vậy việc ngừng giao lưu kinh tế với Tàu khi chúng ta có
những đấu tranh mạnh mẽ để bào vệ chủ quyền cũng chỉ mới là suy đoán. Việc giao
lưu là có lợi cho cả hai bên. Việc giao lưu với Tàu nếu bị giảm sút, trước mắt
kinh tế Việt sẽ gặp khó khăn, đời sống của đân bị ảnh hưởng. Nhưng thử hỏi dân
xem họ có vui lòng chấp nhận khó khăn trong thời gian ngắn để loại bỏ mọi xấu
xa do Tàu mang đến. Tôi nghĩ rằng được giải thích đa số dân sẽ vui lòng. Hơn
nữa dân ta có câu: “Trong cái khó ló cái khôn”. Trước đây vì nhầm lẫn mà ta ưu
tiên thị trường Trung Quốc, nhưng nếu vì bảo vệ chủ quyền mà nó bị co lại thì
các nhà doanh nghiệp Việt có đủ trí khôn để mở ra các nước khác, chứ làm sao
chịu bó tay.
6. Nhận định
Tôi cho rằng những ngụy biện trên
đây chỉ nhằm để duy trì chế độ độc tài Đảng trị theo đường lối CS, đem nước ta
phụ thuộc vào Tàu Cộng. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc này trước hết phải thoát ra
khỏi ý thức hệ CS, phải cải cách thể chế theo con đường dân chủ chân chính. Một
ngày mà ĐCS Việt Nam còn kiên trì đường lối hiện hành thì dân Việt còn chịu
cảnh lầm than và đất nước dần dần bị thôn tính.
Để kết thúc xin kể câu chuyện: Ngày
xưa bên Tàu, nước Triệu (Thời U Mục Vương), nhờ có Lý Mục và Tư Mã Thượng là
những người tài giỏi, yêu nước mà ngăn chặn được sự xâm lược của nước Tần. Thế
nhưng vua Triệu tin dùng tên quan đứng đầu triều đình là Quách Khai, một kẻ
tham lam. Gián điệp nước Tần đem biếu Quách khai một số lớn vàng bạc với yêu
cầu vu cáo Lý Mục và Tư Mã thượng là bọn phản bội, chống lại nhà vua, để họ bị
loại bỏ. Quách Khai nhận vàng bạc, thực hiện âm mưu, xui dục vua giết chết Lý
Mục, đuổi được Tư Mã Thưọng. Kết quả quân Tần xâm chiếm nước Triệu một cách dễ
dàng. Sau vụ này vua Tần nói: Ta chỉ bỏ ra ít vàng bạc mua được Quách Khai,
dùng Khai để chiếm được Triệu, quá rẻ. Quách Khai hý hửng cho rằng đã lập công
với Tần nhưng bị Tần đuổi đi, không dùng kẻ phản phúc. Quách Khai về quê, chở
theo mấy xe vàng bạc. Giữa đường bị những người nghĩa khí giết hết cả nhà, lấy
hết của cải.
Bình luận - Việc này đáng cho nhiều
người Việt suy ngẫm. Nhưng những kẻ rắp tâm bán nước nghĩ rằng họ khôn hơn
Quách Khai vì đã tuồn nhiều của cải và cho con cháu ra nước ngoài. Không đâu,
chúng mày khôn, sẽ có người khôn hơn và trên hết, chúng mày đã gây ra nghiệp
chướng, thế nào cũng chịu nghiệp báo. Hãy luôn nhớ rằng của cải do sức lao động
và tài năng làm ra mới bền chặt, còn của phi nghĩa do gian lận, tham nhũng,
tước đoạt thì chỉ làm giàu tạm thời, không đời chúng mày thì đời con, đời cháu
cũng tiêu thành mây khói và chưa biết còn những thảm họa nào nữa.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét