Phạm
Hưng Quốc
Phần I
Để có được cách nhìn
tổng thể nhất, tác giả xin nhắc lại một luận điểm của người sáng lập ra Chủ
nghĩa cộng sản: Karl Marx viết trong cuốn Tư bản như
sau: Chủ nghĩa tư bản tìm mọi cách tạo giá trị lợi nhuận thặng dư, chúng không
trừ thủ đoạn gì để đạt được giá trị thặng dư cao nhất. Khi giá trị thặng
dư lên tới 70, 80, 100% thì chúng sẽ có những tâm lý điên loạn đến
mức chúng có thể tự treo cổ!! Rất tiếc rằng những người tự nhận là đệ tử trung
thành của chủ nghĩa Marx còn lại trong đội ngũ lãnh đạo của môt số quốc
gia xã hội chủ nghĩa ít ỏi còn sót lại đã tạo ra một thế hệ lãnh đạo mới, lần
đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nhân loại, đó là tầng lớp tư bản đỏ.
Tầng lớp những người lãnh đạo này mặc dù luôn khoác áo cộng sản hay xã hội chủ
nghĩa nhưng thực chất họ lại có ham muốn làm giàu cho bản thân một cách cuồng
nhiệt nhất. Họ bất chấp những chuẩn mực về đạo đức, sẵn sàng thực hiện những
thủ đoạn từ trắng trợn đến tinh vi để kiếm tiền. Phương tiện kiếm tiền của họ
là “quyền lực”, sự ranh ma tinh quái và cả sự tàn bạo... Lợi nhuận họ thu về
luôn tỉ lệ thuận với những “phẩm chất” này. Hiện tượng tham nhũng trở nên phổ
biến và dần trở thành xu thế, có tính chất nguyên lý tất yếu của việc hình
thành bộ máy cai trị do họ lập ra mặc dù họ luôn khẳng định “quyết tâm xây dựng
một nhà nước của dân, do dân và vì dân”.
Thực tế đã chứng minh
rằng đội ngũ lãnh đạo tại các nước xã hội chủ nghĩa này đã trở thành những kẻ
giàu có nhất trong xã hội. Bọn họ giàu có hơn hẳn bất cứ một đội ngũ lãnh đạo
nào của các nước tư bản phát triển. Nhóm người này có tâm lý làm giàu như các
nhà tư bản chó sói thời hoang dại. Họ núp dưới bóng của chủ
nghĩa vô sản nhưng lại hành động như những kẻ điên rồ tham lam tàn
bạo nhất. Họ đã tự đặt mình lên trên pháp luật, lũng đoạn pháp luật. Đội ngũ
lãnh đạo tại các nước này theo thời gian đã được phân hóa thành nhiều nhóm lợi
ích... Các nhóm lợi ích tranh giành xâu xé thậm chí triệt tiêu nhau
để vơ vét tiền bạc của cải của đất nước mà chính họ là những
người đang giữ cương vị lãnh đạo. Các nhóm lợi ích tại
các quốc gia này trong đó có Việt Nam đang có xu hướng phát triển không có giới
hạn. Các nhóm lợi ích dùng quyền lực chính trị, tư pháp, hành pháp và cả lập
pháp để tranh giành biển thủ, tước đoạt những gì có thể, cho phe nhóm của mình,
họ sẵn sàng dùng hàng tỷ đô la ngân sách nhà nước để phục vụ cho các dự án bình
phong mà những nhóm lợi ích của họ dựng lên với chiêu bài phát triển kinh tế,
phục vụ dân sinh, phục vụ an ninh quốc phòng để thực hiện các hành
vi tham ô, tham nhũng. Trên thực tế sự tha hóa này phát triển rất nhanh từ thế
hệ lãnh đạo này sang thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Thế hệ sau tham lam tàn bạo, táo
tợn và tinh vi hơn thế hệ trước. Đây là một thực tế mà tất cả mọi người đều
nhận ra. Mọi người trong đó có cả những kẻ tham nhũng đều nhận thức được rằng
sự suy thoái này chắc chắn sẽ dẫn tới sự đổ vỡ diệt vong nhanh chóng cho đất
nước của họ nhưng lại không ai có đủ dũng khí và khả năng để tìm cách ngăn chặn
dòng thác tham nhũng đang cuốn phăng đi tất cả thậm trí cả lương tâm,
lương tri… Dòng thác này được hình thành một cách tự phát như một xu thế và là
hệ quả tất yếu trong quá trình chuyển đổi từ việc quản lý kinh tế quan liêu bao
cấp theo mô hình xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường.
Bài viết này không có
ý định đi sâu vào việc phân tích các nguyên nhân cội rễ cũng như các biến cố
lịch sử đã hình thành nên “dòng nước lũ tham nhũng” có tính đặc thù này mà chỉ
định nêu ra một vài nhận định cơ bản để làm cơ sở nền tảng giúp bạn đọc hiểu
thêm những phân tích về diễn biến trên chính trường tại Việt Nam hiện nay và
trong thời gian tới.
Sự hình thành các
nhóm lợi ích đã làm thay đổi đời sống chính trị tại Việt Nam ngay từ khi bắt
đầu thực hiện quá trình “đổi mới”. Các nhóm lợi ích luôn tìm cách tranh giành “
hơn thua” với nhau trên chính trường. Quá trinh “đổi mới” tại Việt Nam tất yếu
đã đưa tới sự gắn kết chặt chẽ giữa quyền lực chính trị với quyền lực kinh tế.
Tuy rằng mặt tích cực do sự nghiêp đổi mới mang lại đối với Việt Nam là rõ ràng
thậm chí đôi khi là kỳ diệu không thể phủ nhận được, cụ thể: sức sản xuất được
cởi trói một phần, sức sáng tạo trong xã hội được phát huy, nền kinh tế không
ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cơ sở hạ tầng, mức
sống của người dân trong xã hội không ngừng được nâng cao, bộ mặt đất nước
được thay đổi toàn diện, vị thế của đất nước được nâng cao trên trường quốc tế
v.v… Song những thành tựu do công cuộc đổi mới mang lại ngày càng bị hạn chế và
dần bị triệt tiêu bởi mặt trái của nó là tệ nạn tham những.
Trước hết trong lĩnh
vực chính trị sự tranh giành giữa những nhóm lợi ích đã tạo ra một đặc thù
trong việc hình thành bộ máy lãnh đạo đất nước mà trước đây chưa từng xẩy ra là
vị trí số 1, vị trí của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản thay vì phải là những cá nhân
xuất sắc nhất, mạnh mẽ nhất nhưng trên thực tế lại ngược lại. Tại Việt Nam gần
hai thập kỷ trở lại đây vị trí Tổng Bí Thư lại giành cho những người có hình
ảnh: nhu mỳ, ba phải, dĩ hòa vi quý, ít góc cạnh... Rõ ràng đây là những giải
pháp tình thế để tạo sự hòa hoãn mà các nhóm lợi ích đã đi đến thỏa hiệp. Hai
nhiệm kỳ làm tổng bí thư của Nông Đức Mạnh là cơ hội vàng cho các nhóm lợi ích
tại Việt Nam kiếm chác và ăn chia. Sang đến thời của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú
Trọng khi các mặt trái của sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích tham nhũng đã bi
phơi bầy không thể che giấu nổi, nhưng trong nhiệm kỳ đầu làm Tổng Bí Thư với
phương pháp tư duy và hành động mang nặng tính lý thuyết giáo điều, cộng với sự
hạn chế về sức mạnh quyền lực cả trên lĩnh vực tài chính lẫn bạo lực cũng như
không có phe cánh, nên Nguyễn Phú Trọng ngoài việc chỉ đưa ra hết nghị quyết
này đến nghị quyết khác, trên thực tế hầu như không làm được gì cụ thể đáng kể
nào. Trên chính trường Nguyễn Phú Trọng trở thành một anh “hề cung đình” bất
đắc dĩ. Thực tế “tập thể” ban lãnh đạo Đảng của ông ta luôn làm vô hiệu hóa các
nghị quyết của đảng và làm ngược với mong muốn của ông ta về các vấn đề mà đặc
biệt là vấn đề nhân sự cốt lõi của đảng. Thực tế này sẽ dẫn tới sự cáo chung
rất nhanh chóng theo cách thức xấu nhất đối với chế độ cộng sản: Sự việc lên
tới đỉnh điểm là tại hội nghị TƯ 6 khóa 11, ông trùm của những ông trùm tham
nhũng và lợi ích nhóm Nguyễn Tấn Dũng đã bi phơi bầy quá nhiều sai phạm trên
rất nhiều phương diện, việc trừng phạt con người này đã trở thành đòi hỏi của
công lý và người dân Việt Nam. Nhưng đến giờ chót Nguyễn Phú Trọng cùng với
“tập thể” Đảng Cộng sản không làm nổi cái điều tưởng như đương nhiên này,
Nguyễn Tấn Dũng vẫn tại vị và ngạo nghễ thách thức quyền lực của Nguyễn Phú
Trọng và đặc biệt thách thức những nỗ lực chống tham nhũng của Đảng. Thực tế
này lần đầu tiên tại Việt Nam Tổng Bí Thư đã trở thành một anh hề cung đình.
Có lẽ sự kiện này đã
làm cho Nguyễn Phú Trọng phải tự lột xác, vì chỉ có như vậy thì mới có cơ may
cứu Đảng Cộng sản và chế độ do Đảng Cộng sản lập ra khỏi sụp đổ một cách nhục
nhã. Đến nay trên thực tế đã ghi nhận một số thành công bước đầu trong quá
trình tự lột xác này của Nguyễn Phú Trọng. Bề ngoài ông ta không tỏ ra có bất
kỳ một thay đổi đáng kể nào, vẫn phát ngôn giáo điều, lạc lõng, thái độ lời nói
vẫn nhỏ nhẹ nhu mỳ đến buồn ngủ, nhưng bên trong ông ta cùng một số đội ngũ
thân tín của mình chuẩn bị cho việc loại bỏ con “sâu chúa” bằng “mọi giá” trong
đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12. Cái chữ MỌI GIÁ ở đây được thể hiện là ông ta
đã chấp nhận mọi sự nhân nhượng kể cả việc để cho các đệ tử thân tín nhất của
sâu chúa Nguyễn Tấn Dũng, những trùm tham nhũng được ở lại và lên
chức cao hơn, mặt khác lại để cho môt số người tâm phúc của ông ta phải về
vườn. Tất cả chỉ nhằm tới mục đích loại được “con sâu chúa” Nguyễn Tấn Dũng.
Người ta nhìn thấy ông ta đã trả một cái giá rất đắt để đạt được muc tiêu này.
Một trong những cái giá phải trả là chấp nhận cho những đệ tử ruột nhất, trung
thành nhất của sâu chúa và Bộ Chính trị và hơn thế nữa còn được đưa vào những
vị trí sống còn của bộ máy cầm quyền. Một thành công nhất cho đến nay trong quá
trình “lột xác” của Nguyễn Phú Trọng là ông ta hành động rất “quyền biến” và
khôn ngoan, biết mình biết ta, trái ngược phong cách giáo điều cứng nhắc, quan
liêu như ông ta vẫn thể hiện. Mặt khác ông ta luôn giữ được bí mật tuyệt đối
phương án hành động của mình, biết đánh hỏa mù, biết dàn trận giả để làm lạc
hướng đối thủ. Để làm được những việc này chắc chắn Nguyễn Phú Trọng cũng đã
thành công bước đầu trong việc xây dựng cho mình một “team hành động đủ
mạnh” Nhưng cần nhận định rằng sẽ là quá sớm nói đến một sự thành
công chắc chắn, bền vững để ít nhất là đẩy lùi được sự đổ vỡ, hỗn loạn của chế
độ hiện hành trong tương lai gần. Nguyễn Phú Trọng và đồng chí của ông ta phải
hóa giải được các nguy cơ to lớn sau:
1. Mọi sự thanh trừng, tiễu phạt
chỉ thành công khi Nguyễn Phú Trọng đảm bảo được sự ổn định và phát triển kinh
tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ gìn. Đây là một thực tế
rất mong manh tại Việt Nam hiện nay: đa số các nhân vật có kinh nghiệm trong
chính phủ hiện nay đều đã từng là những đệ tử thân thiết của Nguyễn Tấn Dũng.
Chính họ là những kẻ gây ra các ung nhọt trong nền kinh tế nhưng đồng thời cũng
là những nhà ảo thuật bậc thầy về sự che đậy, biến báo cho những ung nhọt
này. Đinh La Thăng là một trong những nhân vật sáng giá hàng đầu như vậy. Chỉ
cần chính những nhân vật này không tiếp tục che đậy nữa thì cũng đủ để đất nước
rơi vào khủng hoảng về tâm lý, sau đó là vỡ bung những ung nhọt trong nền kinh
tế ở những nơi yếu nhất và nhạy cảm nhất, rồi lan sang các lĩnh vực khác về
kinh tế, tài chính và xã hội. Tất nhiên khi còn chức quyền hoặc ít ra được hạ
cánh an toàn thì những kẻ tham nhũng còn “ vun đắp” cho chế độ, nhưng khi bị
lao lý và truy thu của cải, tài sản thì tình hình sẽ khác, rất khác. Liệu
Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị các biện pháp để đối phó hay chưa?
2. Mục tiêu lớn nhất của chống
tham nhũng là lấy lại uy tín cho Đảng Cộng sản, khôi phục lại lòng tin cho nhân
dân là Đảng thực sự tôn trọng sự công bằng và công lý. Nhưng tại Việt Nam tham
nhũng đã quá trầm trọng, diễn ra ở mọi nơi mọi cấp mọi lĩnh vực, vậy nếu chống
tham nhũng không đúng cách thì sẽ phơi bầy sự mọt rỗng của chế độ qua nhiều
thời kỳ lãnh đạo. Mặt khác chính việc chống tham nhũng sẽ gây ra sự bất công
giữa các phe nhóm, giữa các cá nhân. Liệu những kẻ bị đưa vào tù có chấp nhận,
những kẻ giống mình nhưng chưa bị lộ vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp
luật thậm trí còn đang giao giảng về đạo đức ?
3. Các cơ quan sức mạnh của nhà
nước Việt Nam hiện nay lại chính là nhưng cơ quan có tham nhũng nhiều nhất,
trầm trọng nhất trong đó đặc biệt là cơ quan Công
An, vây khi “đánh” vào các nhân vật chủ chốt của các cơ
quan này thì liệu có đảm bảo được An ninh, Quốc phòng cho đất nước hay không?
4. Liệu Nguyễn Phú Trọng và các
đồng chí của ông ta có chứng minh được sự trong sạch của lực lượng chống tham
nhũng hiện nay trước tin đồn cho rằng họ nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của
Trung Quốc, cả về kinh tế, tài chính, an ninh, quốc phòng, hay không ? Cần hiểu
rằng đây cũng là một tử huyệt về chính trị khi mà lòng dân Việt Nam đang có một
sự mặc cảm rất lớn về chính sách bành trướng và bá quyền Trung
Quốc. Rõ ràng rằng yếu tố Trung Quốc có ảnh hưởng rất quan trọng đến
sự thắng hay thua của chiến dịch chống tham nhũng tại Việt Nam, nếu không nói
là sự ảnh hưởng này có tính quyết định trong tình thế hiện nay tại Việt Nam. Nhưng
lịch sử cận đại đã dạy cho Việt Nam những bài học quá đắt giá của việc lệ thuộc
vào Trung Quốc. Chỉ cần Trung Quốc của Tập Cận Bình “VÔ TÌNH” đối với cuộc
chiến chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay mà tổ chức một vài sự kiện giống
như dàn khoan 981 hay Formosa hay tấn công ngư dân Việt Nam trên Biển Đông...
thì cũng đủ để đẩy Nguyễn Phú Trọng và đồng chí vào chân tường. Nhưng nếu Tập
Cận Bình mà ủng hộ Nguyễn Phú Trọng không đủ độ KÍN ĐÁO,TẾ
NHỊ thì Trung Quốc sẽ biến lực lượng chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng
cầm đầu trở thành tay sai của Trung Quốc. Người dân Việt Nam lại không bao giờ
chấp nhận lãnh đạo của đất nước là tay sai của TRUNG QUỐC.
5. Thái độ của Mỹ và phương Tây
cũng ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến này. Tuy không mạnh mẽ, trực tiếp bằng sự
ảnh hưởng của Trung Quốc nhưng xã hội Việt Nam và tâm lý của người dân Việt Nam
đang hướng tới một xã hội dân chủ công bằng và văn minh. Khi nói đến khái niệm
này thì tuyệt đại đa số người Việt Nam đều nghĩ tới Mỹ và phương Tây.
Trở lại một chút về thái độ của
chính phủ Đức trong vụ Trịnh Xuân Thanh. tác giả bài viết này không cho rằng
phản ứng mạnh mẽ của chính phủ Đức đối với chính phủ Việt Nam chỉ xuất phát từ
những nguyên nhân bề nổi như báo chí đã nói. Ngược lại tác giả cũng
không cho rằng lực lượng chống tham nhũng của nhà cầm quyền Việt Nam
lại có hiểu biết và hành động thô thiển, vụng về nhưng những gì đã diễn ra công
khai đã được công luận tường thuật. Ngay từ khi Trịnh Xuân Thanh được đưa
về Việt Nam các cơ quan an ninh và chuyên gia trong và ngoài nước đã có những
tư vấn kịp thời với lực lượng chống tham nhũng tại Việt Nam nhằm tránh đi những
tổn hại đáng tiếc về ngoại giao và bang giao kinh tế nhưng dường như chẳng ai
trong lực lượng chống tham nhũng tại Việt Nam quan tâm đến những lời tư vấn này
và đã không làm những việc cực kỳ đơn giản để không làm trầm trọng hóa vấn đề
này. Nhưng khi sự việc đã tiến triển theo chiều hướng xấu vượt mức bình thường
thì phía Nguyễn Phú Trọng lại quy trách nhiêm cho Phạm Bình
Minh? Môt số dấu hiệu này đã nói lên rõ ràng rằng cuộc chiến chống
tham nhũng đã vượt qua phạm vi biên giới của Việt Nam mà sẽ là cuộc chiến giành
ảnh hưởng giữa phương Tây và Trung Quốc đối với Việt Nam. Liệu Nguyễn Phú Trọng
còn giữ được đường lối “đa phương hóa ,đa dạng hóa với các nước” được hay
không, hay lại theo chân Malaysia, Thái Lan, Philippin thậm chí là
Campuchia trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc? Chắc chắn câu trả lời cho
câu hỏi này không chỉ là ở phía Việt Nam mà còn ở Trung Quốc và các nước phương
Tây và Mỹ.
Tóm lại Nguyễn Phú Trọng và các
đồng chí của ông đã chọn một con đường khác hẳn với con đường mà người tiền
nhiệm của ông là Nông Đức Mạnh đã lựa chọn. Cứ giả thiết, như nhiều lời đồn
đoán dù thiện ý hay ác ý, cho rằng cuộc chiến chống tham nhũng này
chỉ là một cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái thì một thực tế không
thể phủ nhân là:
1. Việt Nam không thể không
chống tham nhũng và càng không thể chống tham nhũng bằng cách đưa những kẻ tham
nhũng lên làm lãnh đạo đất nước .
2. Cuộc chiến chống tham nhũng
tại Việt Nam sẽ không phải chỉ là câu chuyện nội bộ của Việt Nam.
- Xem tiếp
Phần II
Trong cuôc chiến
chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo thì cái khó không phải là tìm ra
những vụ án tham nhũng khủng, hay cực khủng của các quả đấm thép (tập đoàn kinh
tế nhà nước) thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì chúng quá nhiều và quá lộ liễu.
Ngược lại sẽ rất khó, thậm chí là không có, dự án lớn nào của các “quả đấm
thép” lại không xẩy ra những tham nhũng nghiêm trọng. Cái khó cho Nguyễn Phú Trọng
và lực lượng của ông ta là phải chọn ra những vụ án mà không làm “vỡ bình”.
Một thực tế là những
dự án lớn của các quả đấm thép thì không chỉ liên quan đến một vài ủy viên Bộ
Chính trị mà có thể nói là đến rất nhiều ủy viên Bộ Chính trị. Tất nhiên sự
phân bổ “lợi lộc” giữa các ủy viên Bộ Chính trị và các cá nhân khác trong ban
lãnh đạo đảng, chính phủ và nhà nước sẽ rất không đồng đều nhưng xét về con số
tuyệt đối thì người được hưởng “lộc” ít nhất cũng cao hơn mức khung hình phạt
cao nhất mà bộ luật hình sự của bộ luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện hành dành cho tội tham ô, tham nhũng. Cái khó nhất cho
Nguyễn Phú Trọng là làm sao cho việc xử lý các vụ án này không gây tổn thương
quá lớn cho chế độ, cho sự ổn định của đất nước. Cách thức xử lý đối với những
vụ việc tham nhũng từ trước tới nay là giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của sự
thiệt hại trong từng vụ án, khoanh vùng các đối tượng liên đới để rồi “giơ cao
đánh khẽ”. Như vậy vừa tạo ra bức tranh nghiêm minh về pháp luật vừa làm cho
đối tượng bị “thí điểm làm gương” chấp nhận “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Giải pháp
này ít ảnh hưởng tới hình ảnh của chế độ. Nhưng sự kiện khởi tố, bắt giam và xử
án nhanh chóng Đinh La Thăng đang minh chứng rằng Nguyễn Phú Trọng đã không
muốn đi theo lối mòn cũ mà muốn tạo đột phá. Vấn đề là đột phá ở
mức độ nào? Mức giống như Tập Cận Bình là hay mức thấp hơn? Nhưng cho dù ở mức
thấp hơn Tập Cận Bình đã làm ở Trung Quốc thì cũng vượt quá khả năng hiện có
của lực lượng chống tham nhũng do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu tại Việt Nam hiện
nay. Để thành công Nguyễn Phú Trọng có ba chỗ dựa :
1. Lòng
dân: khái niệm này có một biên độ dao động rất cao. Đương nhiên tỉ lệ
ủng hộ của lòng dân luôn tỷ lệ thuận với mức độ kiên quyết, triệt để, công
bằng, minh bạch trong quá trình điều tra và xét xử những vụ án tham nhũng,
nhưng điều này lại làm gia tăng sự phức tạp của vấn đề cả về chính trị, ngoại
giao và các vấn đề an ninh, quốc phòng. Thông thường, để hỗ trợ đắc lực cho
việc giải tỏa những nghịch lý này thì vai trò của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung
ương rất quan trọng. Song cho đến nay dường như các phương tiện thông tin “lề
phải” còn rất thụ động trước diễn biến tình hình, hay nói cách khác Nguyễn Phú
Trọng và lực lượng của ông ta vẫn chưa làm chủ được địa hạt này.
2. Sự hỗ trợ của Tập
Cận Bình,
đây cũng là một yếu tố có biên độ dao động rất cao. Rất rõ ràng Tập Cận Bình
không ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng ngay cả khi ông ta còn đương quyền, nhưng hiện nay
họ lại công khai sự ủng hộ đối với Hoàng Trung Hải. Người ta dễ dàng quan sát
thấy rằng công cuộc chống tham nhũng đang sục sôi tại Việt Nam nhưng Hoàng
Trung Hải gần như vẫn đứng NGOẠI PHẠM trong mọi vụ viêc mặc dù ông ta cũng đã
trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào rất nhiều dự án bê bối trong quá khứ khi
ông ta còn là một phó thủ tướng phụ trách công nghiệp và thương mại dưới thời
Nguyễn Tấn Dũng. Đặc biệt là các dự án do các nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện
hoặc do tiền của Trung Quốc cho vay đều là những thí dụ điển hình bê bối trên
nhiều phương diện. Đây có lẽ cũng là cái cớ rõ ràng của luận điểm cho rằng
Nguyễn Phú Trọng đang dựa vào Trung Quốc để thanh lọc bộ máy thông qua cái cớ
chống tham nhũng. Nhưng vì cần sự hỗ trợ của Trung Quốc nên ông ta không dám
động tới các dự án của Trung Quốc và cá nhân Hoàng Trung Hải. Vậy câu hỏi đặt
ra là Tập Cận Bình hỗ trợ Nguyễn Phú Trọng ở mức độ nào trong chiến dịch chống
tham nhũng hiện nay? Liệu người ta có thể lấy việc NGOẠI PHẠM này để xác định
MÀU SẮC VÀ DIỆN MẠO cho công cuộc chống tham nhũng hiện nay của Nguyễn Phú
Trọng? Tác giả bài viết này cho rằng chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì
thực tế sẽ cho mọi người thấy rõ MÀU SẮC của công cuộc chống tham nhũng hiện
nay tại Việt Nam. Nhưng để hiểu thêm về bản chất sự chi phối của Trung Quốc đối
với bộ máy chính trị tại Việt Nam, tác giả bài viết cần phải nêu rõ nhận định
của cá nhân về việc tại sao Trung Quốc hay nói cụ thể hơn là Tập Cận
Bình không ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng ngay từ khi ông ta còn đương chức. Họ không
ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng không phải vì ông ta chống Trung Quốc thân với Mỹ và
phương Tây mà chỉ vì ông ta đã tự trở thành một con bài thối trên bàn cờ chính
trị tại Việt Nam. Để minh chứng cho nhận định này xin hãy đánh giá Nguyễn
Tấn Dũng thông qua những di sản mà ông ta để lại cho Việt Nam chứ không nên chỉ
dựa vào một số lời nói hay động thái bề nổi có vẻ thân Mỹ và chống Trung Quốc
của ông ta.
3. Mỹ và phương Tây tuy không có
khả năng chi phối mạnh vào chính trường Việt Nam như Trung Quốc nhưng họ đang
có lợi thế “trời cho” do quá trình “đổi mới” tại Việt Nam mang lại. Nhờ vào
thành tựu mặt phải do quá trình đổi mới tại Việt Nam mang lại, người dân Việt
Nam đã hiểu giá trị của sự cởi trói trong các hoạt động kinh tế, thương mại:
giá trị của tự do dân chủ, của quyền con người và đương nhiên sự khát khao để
có được nó. Việc không ngừng hoàn thiện nó đã và đang không chỉ là nhu cầu tất
yếu của mọi người dân mà đã đần trở thành mục tiêu, lý tưởng của không ít người
Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ. Các giá trị PHƯƠNG TÂY đã trở thành
động lực cho sự phát triển của kinh tế, xã hội. Mỹ và các nước phương Tây tuy
khá chậm nhưng đã dần dần nhận ra xu thế này tại Việt Nam và họ đã có nhiều
chính sách để khuyến khích và tạo điều kiện cho Việt Nam đi theo hướng này.
Song vì sự khác biệt về chế độ chính trị, về ý thức hệ nên đã kìm hãm khá nhiều
sự hợp tác hiệu quả giữa Việt Nam và các nước phương Tây và Mỹ. Chỉ trong những
năm gần đây thì tiến trình hợp tác này mới đươc chú trọng tăng cường đáng kể do
sự xuất hiện của sự kiện BIỂN ĐÔNG. Sự kiện này đã thúc đẩy hai bên
hiểu đươc GIÁ TRỊ của nhau hơn. Rõ ràng rằng cho dù có đủ loại lời ong tiếng ve
về cái gọi là “rắp tâm bán nước” hay “làm tay sai” cho Trung Quốc
của một số lực lượng cầm quyền nào đó ở Việt Nam nhưng không ai có thể phủ nhận
một thực tế là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện này trở thành “cái
gai” to nhất và khó chịu nhất của Trung Quốc trong quá trình thực hiện kế hoạch
BIỂN ĐÔNG của họ. Những hiềm khích giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển
Đông nhiều và lớn hơn rất nhiều so với các nước ASEAN khác với Trung Quốc cộng
lại. Biển Đông có vai trò địa chính trị toàn cầu của nó. Nhà cầm quyền Hoa Kỳ
trong thời gian qua đã dần ý thức được vai trò này của Việt Nam và đã có những
điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối với Việt Nam trong những năm gần
đây. Sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử vào đầu tháng ba năm 2018
sắp tới, một tầu sân bay Mỹ sẽ cập cảng dài ngày tại Đà Nẵng, một
thành phố chiến lược của Việt Nam, là một minh chứng. Nhà cầm quyền hai nước
Việt Nam và Hoa Kỳ đã khôn ngoan tận dụng cơ hội này để phát huy tối đa các hệ
quả của nó không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng mà còn cho cả
các lĩnh vực dân sự như giữ gìn sự ổn định và hòa bình, an ninh và an toàn hàng
hải trên Biển Đông, đảm bảo một môi trường an toàn và ổn định trong việc cùng
sử dụng và khai thác Biển Đông một cách hòa bình văn minh chống xu thế nước to
bắt nạt nước nhỏ dưới mọi hình thức. Ngoài các phái đoàn quân sự phía Mỹ và
được sự cho phép của nhà cầm quyền, Việt Nam còn mời rất nhiều các cơ quan, tổ
chức phi quân sự Việt Nam viếng thăm tàu.
Thật ngoạn mục, mới
chỉ cách đây bốn thập kỷ đối với Việt Nam, Mỹ luôn luôn là yếu tố đe dọa, nhưng
bây giờ lại là yếu tố để giữ ổn định để bảo vệ hòa bình. Lạ lùng thay để làm
cho tình thế bị xoay ngược 1800 như trên, nước Mỹ đã
không mất một viên đạn nào, khi mà chỉ ngay trước đó họ đã phải chi tới hàng
trăm tỷ đô la và hàng vạn sinh mạng mà không thể làm nổi dù chỉ là một phần nhỏ
những gì họ đang có. Trớ trêu thay nguyên nhân của sự thay đổi ngoạn muc này
lại là do chính sách bành trướng trên tư thế của kẻ mạnh luôn muốn bắt nạt các
nước khác của Trung Quốc.
Đương nhiên nhà cầm
quyền Trung Quốc sẽ cảm thấy khó chịu về sự kiện này cũng như sự xích lại gần
nhau giữa Mỹ và Việt Nam. Chắc chắn trong ngắn hạn và dài hạn họ sẽ tìm cách
xoay ngược tình thế. Cụ thể ngay trong năm 2018 này lãnh đạo chóp bu của Trung
Quốc sẽ tổ chức những chuyến đi thăm rất THÂN MẬT tại hai nước láng giềng của
Việt Nam là Lào và Campuchia và đương nhiên họ sẽ tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi
cơ hội để gây sức ép, để khuất phục ban lãnh đạo Việt Nam bớt “cứng đầu”. Tác
giả không muốn dùng khái niệm “khuất phục Việt Nam" mà chỉ là "ban
lãnh đạo Việt Nam” vì với hàng nghìn năm lịch sử tồn tại, người dân
Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh cường quyền của ngoại
bang.
Một chút tản mạn về đại án
Petro Việt Nam
Tác giả bài viết cho
rằng sự kiện vụ án Petro Việt Nam là một câu chuyện rất điển hình, phản ảnh rõ
nét thực trạng tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay: Tại sao lại là Petro
Việt Nam trong khi mà bất cứ tập đoàn kinh tế nhà nước nào – các quả đấm thép
của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng có mức độ vi phạm luật pháp và tham
nhũng nghiêm trọng không kém, đặc biệt là các sai phạm của tập đoàn Than Khoáng
sản Việt nam trong quá khứ còn lộ liễu công khai hơn nhiều? Công
bằng mà nói Petro Việt Nam là con gà đẻ trứng vàng cho nhà nước Việt Nam không
những trong vài ba thập kỷ trở lại đây mà còn có tiềm năng rất lớn trong tương
lai. Chỉ cách đây vài năm khả năng thu hút vốn tài chính quốc tế của Petro Việt
Nam còn cao hơn cả khả năng của chính phủ Việt Nam (Bộ Tài chính). Có thể nói
Petro Việt Nam không chỉ có vai trò cực kỳ quan trọng về mặt kinh tế, tài chính
đối với Việt Nam mà nó còn gắn rất chặt tới các lĩnh vực an ninh, quốc phòng và
cả ngoại giao của đất nước. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta liệu có
hiểu rằng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng do các thế hệ lãnh đạo Petro Việt
Nam và các cá nhân trong chính phủ có liên quan đến Petro Việt Nam sẽ thấp hơn
nhiều so với những thiệt hại vô hình và hữu hình do sự ngừng trệ trong việc đầu
tư và triển khai kinh doanh của các dự án của tập đoàn này? (Theo ước tính các
thiệt hại này có thể lên tới trên 5 triệu mỹ kim/ngày tức là hơn 1,5 tỷ mỹ
kim/năm)? Rõ ràng rằng nếu Nguyễn Phú Trọng và bộ máy của ông ta mà phạm sai
lầm trong trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng tại Petro Việt Nam (hoặc
quá mạnh, hoặc quá nhẹ, thậm chí chỉ cần vụng về …) thì hậu quả sẽ rất khó
lường. Trong các cáo trạng của các cơ quan thực thi pháp luật thì nhà nước Việt
Nam mới chỉ đụng tới một số sai phạm trong một số vụ án chưa phải đã là
lớn và điển hình trong số các sai phạm mà Petro Việt Nam đã thực hiện trong
thời gian qua . Thông thường một vụ án tham nhũng tại Việt Nam có dây mơ rễ má
với nhiều quan chức trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong khi mà hệ thống pháp
luật của Việt Nam còn quá non yếu để có thể đảm bảo rằng trong khi “phẫu thuật
các vụ án” sẽ không để lây lan sang các việc khác mà lúc đầu tưởng chừng như
không có liên quan. Quả thực hiện nay các ngân hàng như Ocean Bank và Ngân hàng
Xây dựng đang chuẩn bị khởi kiện Ngân hàng Nhà nước vì đã áp đặt việc mua các
ngân hàng này với giá 0 đồng là trái pháp luật. Vậy một Uỷ viên Bộ Chính trị
thứ hai là Nguyễn Văn Bình liệu có đi theo số phận của Đinh La Thăng? Hai vị
này vốn cũng là hai tư lệnh ngành thân cận hàng đầu của Nguyễn Tấn Dũng.
Kết luận
Nếu ví tình hình
chính trị Việt Nam như chiếc bình rượu chứa đựng những giọt rượu ngọt, bùi,
đắng, cay của lịch sử Việt Nam từ ngày thoát khỏi ách thực dân đến nay thì rõ
ràng cái bình này đã không phù hợp với những gì chứa trong nó. Nó có thể nứt và
vỡ bất cứ lúc nào. Vấn đề là nếu nó bị nứt vỡ ở phần cổ thì chỉ mất ít
rượu, nhưng nếu ở phần thân thì mất nhiều và nếu ở phần đáy thì đương nhiên sẽ
mất sạch. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông ta đang cố gắng không để
bình bị vỡ. Một trong những phương án mà họ đang cố gắng không để bình vỡ là
tạo cho Việt Nam đi theo một tiến trình thay đổi rất cơ bản nhưng vẫn đảm bảo
ổn định chính trị xã hội trong nước, đó là thực hiện cải cách triệt để nhưng
lại từ từ “có lộ trình hợp lý”. Quá trình cải cách này bắt đầu từ các cơ quan
hành pháp (chính phủ) rồi sau đó là các cơ quan tư pháp và cuối cùng là xây
dựng một thể chế chính trị mới trên nền tảng của một học thuyết về tư tưởng và
triết học mới trong khi mà học thuyết cũ đã hoàn toàn bất cập. Khác với các
nước phát triển khác, cụ thể như Châu Âu hay Bắc Mỹ, khi mà họ đã có bề dày
hàng trăm năm để làm quen với các khái niệm dân chủ, nhân quyền, Việt Nan vừa
mới thoát ra từ chế độ thực dân hà khắc rồi sau đó lại tiếp tục các chính sách
hà khắc của chế độ cộng sản duy ý chí, nay khi muốn phát triển theo hướng tự do
dân chủ thì không thể không có một chủ thuyết đúng đắn cho riêng mình. Nếu
không có điều này thì rất dễ mất phương hướng và đặc biệt các khái niệm cũ, mới
sẽ bị ngộ nhận hay lạm dụng vì lợi ích của các nhóm quyền lực trong xã hội.
Nhưng trớ trêu thay, cho đến nay sẽ thật khó tin Nguyễn Phú Trọng và các đồng
chí của ông ta (Ban Lý luận TƯ) có thể đưa ra một cái gì mới, sáng tạo dù chỉ
là ở mức độ thấp. Hỡi ôi, tác giả bài viết này chỉ cầu trời khấn
phật là Ban Lý luận TƯ của ông ta sau khi tổ chức hàng trăm các buổi tọa đàm,
hội thảo với các giáo sư tiến sĩ lừng lẫy uy tín cùng với hàng tỷ đồng tiền
ngân sách sẽ không đưa ra kiến nghị lấy tên cho hướng đi mới, học thuyết chính
trị mới của Việt Nam là “ Việt Nam đi theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội mang đậm
tính đặc tính đặc sắc Việt Nam” ./.
Việt Nam, ngày 7/1/2018
Phạm Hưng Quốc
Tác giả gửi cho viet-studies ngày
8-1-18
http://www.viet-studies.net/kinhte/PHungQuoc_DuBaoTinhHinh_II.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét