“THIÊN THU ĐỊNH LUẬN” VÀ NGƯỜI BẠN SỬ HỌC CỦA CHA


Dương Tự Lập

(Phần 1)
Chú Hoàng Nhật Tân là dịch giả và là nhà sử học nổi tiếng với bút danh Thanh Đạm, Hoàng Thanh Đạm. Từng dịch cuốn “Bàn về Khế ước Xã hội” (của J.J.Rousseau); “Bàn về Tinh thần Pháp luật” (của Montesquieu); từng viết cuốn “Nguyễn Trường Tộ” và “Tìm hiểu lịch sử một xí nghiệp – Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo”…

Năm 1952, chú từng là thư ký cho Việt thọt-Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang) chính khách đảng CSVN. Năm 1957, chú được Trung ương Đảng cử sang Mạc-Tư-Khoa học tập lý luận ở trường Đảng cao cấp Đảng Cộng sản Liên Xô rồi bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ Sử học. Về nước, chú công tác tại Viện Sử học. Chú là bạn thân, cùng tuổi, cùng làng, cùng học với cha tôi từ thời để chỏm. Nhắc tới chú Tân bao giờ mẹ tôi cũng nói: Anh Tân là người con có hiếu.

Cha đẻ chú Tân là ông Hoàng Văn Hoan (Hoàng Ngọc Ân), cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cựu Phó chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Ông Hoan có hai người vợ chính thức nhưng duy nhất có mỗi chú Tân là con bà vợ cả, còn bà vợ hai mất khi tuổi đang xuân ở trong quê làng Quỳnh Đôi.

Nếu không xảy ra sự kiện tháng 7 năm 1979 trên đường đi Đông Đức (Cộng hòa Dân chủ Đức) chữa bệnh rồi ông Hoan bỏ trốn sang Trung Quốc qua ngả Pakistan, thì có lẽ gia đình chú Tân sống khá hạnh phúc, no đủ , êm ấm tại ngôi nhà cổ ở 29 Nguyễn Gia Thiều, sát góc phố Trần Bình Trọng – Hà Nội. Ngôi nhà có một khoảng sân phía trước rất đẹp với hai cây phượng già ngoài cổng trong hàng cây chạy dọc phố lên tới đường Quang Trung.

Trong mắt tôi, ông Hoàng Văn Hoan là người có thân hình cao lớn. Chú Tân cũng vậy, gương mặt giống mẹ đẻ, cao lớn giống cha. Hồi gia đình tôi ở trong khu Nhà Hát Nhân Dân, nay là Cung Văn hóa Hữu nghị 91 Trần Hưng Đạo, ông đã hai lần vào chơi, thăm hỏi bố mẹ tôi. Ngoài tình làng nghĩa xóm, còn có tình đồng chí bởi năm 1925 – 1930 ông và ông ngoại tôi là Hoàng Văn Hợp cùng đi hoạt động cách mạng. Không may ông ngoại tôi bị Pháp bắt và tử hình tại huyện lỵ Quỳnh Lưu ba ngày sau khi ông chỉ huy cuộc biểu tình trong phong trào Xô viết – Nghệ tĩnh khi tuổi chưa đầy ba mươi.

Cha mẹ tôi coi ông Hoan cũng như cha đẻ mình vậy. Nhiều chục năm sau, trên bước đường tha phương tôi vẫn thường nghĩ dại (họa trung hữu phúc) trong họa có phúc. Nếu như ông ngoại mình còn sống mà trung thành đi theo cái Đảng cộng sản này không khéo đại họa cho gia đình tôi. Mùa Xuân năm 1975, ông Hoan vào tuổi bẩy mươi, cha tôi có bài thơ mừng thọ ông:

Mừng Thọ Ông Hoàng Văn Hoan Tuổi 70

Hoan hỷ mừng ông bảy chục tuần
Trời xuân đất nước chửa vào xuân
Được mùa tám tấn dân kêu đói
Đời sống nâng cao lại hụt chân
Bởi lũ xu thời ngầm hại Đảng
Vì phường trục lợi khoét trong dân
Chúc ông khỏe vững thêm tay lái
Đất nước vào xuân nhật nhật Tân.


Bài thơ “hỗn” này bạn bè cha tôi rất thích và đánh giá rất cao. Cái hay nữa là bài thơ mở đầu tên cha khép lại tên con. Ông Hoan giữ thái độ im lặng. Dì Thúy bảo, anh Dương Quân chửi nhà mình đó ông Tân ạ. Cuối năm đấy ông Hoan qua nhà tặng lại cha tôi chiếc áo đại cán bốn túi và cuốn thơ “Một Đôi Vần” của ông viết thời kỳ hoạt động ở Việt Bắc năm 1942-1947. Cuốn thơ do nhà xuất bản Việt Bắc ấn hành. Thơ cũng không có gì đặc sắc lắm.

Nhân nói cuốn thơ, tôi nhắc lại ở đây Hoàng Văn Hoan có hai chuyện ít người còn nhớ tới nữa. Đó là chuyện xử ông Tạ Đình Đề, Trưởng ban Thể dục thể thao, kiêm Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ cao su Tổng cục Đường sắt vào tháng 6 năm 1976 ở Tòa án Hà Nội, nằm tầng một của trụ sở Tòa án Nhân dân Tối cao , số 48 Lý Thường Kiệt.

Vụ xử kéo dài sáu ngày thì có tới năm ngày Hoàng Văn Hoan tham dự, ngày nào cũng đông nghẹt người xem. Tạ Đình Đề trắng án và người ta hết lời ca ngợi bà Thẩm phán Phùng Lê Trân, chủ tọa phiên tòa, người phụ nữ có tấm lòng nhân hậu, cương quyết, không bạc nhược khiếp sợ trước quyền uy hoặc vị nể tư tình. Một bà Bao Công của Việt Nam chấp pháp nghiêm minh. Cùng người dự là Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan.

Việc này cả bà Trân lẫn ông Hoan rất được lòng người, mà không được lòng trên. Lúc đó Việt thọt-Hoàng Quốc Việt là đương kim Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, kiêm Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao. Tạ Đình Đề, nhà cách mạng, Đội trưởng Đội biệt động Liên khu 3 mà đòi thắng Việt thì đời nào Việt thọt chịu.

Chuyện thứ hai là vụ án báo Nhân văn và báo Giai phẩm mà ta thường gọi tắt lại là vụ án Nhân văn Giai phẩm, xảy ra vào năm 1956-1958 của giới văn nghệ sĩ 60 năm về trước. Tổng chỉ huy chính là Hoàng Văn Hoan. Ông Lành-Tố Hữu chỉ là tên đồ tể thực thi nhưng vì Hữu là Trưởng ban Tuyên huấn nên Hữu lạm quyền Hoan, chém hết những người cầm bút chân chính, tài năng cùng thế hệ. Những con người không biết cơ hội xu nịnh và tham vọng lớn như Hữu. Còn Hoan làm cho giới văn nghệ sĩ căm ghét Hoan vì đã gọi “Làm Đĩ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng là văn chương dâm uế. Dù đây chỉ là câu Hoan nhắc lại của Thái Phỉ, chủ bút báo “Tin Văn”. Nhiều người nghi ngại hỏi, không biết Hoan đã đọc “Làm Đĩ” của văn sĩ họ Vũ chưa?

Hoàng Văn Hoan khi đi hoạt động thoát sang Xiêm (Thái Lan), rồi quay về nước, chủ yếu là vùng Việt Bắc và vùng địa phận Trung Quốc, sát đất Việt Nam. Hoan có bí danh Lý Quang Hoa. Tên này do ông Hồ đặt cho vì ông Hoan từng hoạt động với ông Hồ ở Liễu Châu và Tĩnh Tây năm 1940.

Khi ở Trung Quốc ông Hồ cũng có bí danh Lý Thụy. Cái tên nghe Tầu Tầu kiểu như Lý Bạch, Lý Tiên Niệm, Lý Bằng vậy. Ông Hồ rất quí ông Hoan, phải chăng gốc gác ông có dây mơ dễ má nào đó tới họ Hồ làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, bởi nếu không thì chắc chắn mặt tiền lăng mộ ông Hồ tại Ba Đình – Hà Nội sẽ được ghi : “Chủ tịch Nguyễn-Sinh-Cung, hay Chủ tịch Nguyễn-Tất-Thành”, chứ đời nào ông chịu để khi chết cho khắc: Chủ tịch Hồ-Chí-Minh.

Hoàng Văn Hoan có rất nhiều ảnh chụp chung với ông Hồ. Hồi ký: “Giọt nước trong biển cả” của Hoan xuất bản tại Bắc Kinh năm 1986 không hề có lời nào thóa mạ ông Hồ. Từ đầu tới cuối chỉ lên án chửi rủa tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ mà thôi. Theo Hoan, chuyện bắt buộc ông phải ra đi chính là do bọn này.

Chuyện chọn Trung Quốc để nương thân là vì ông đã sống quá lâu ở đó. Hoan là đại sứ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Đại lục Trung Quốc mà ông Hồ điều tới khi hai nước lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ năm 1951. Cũng theo lập luận của Hoan, nghĩ nếu sang Đông Âu để điều trị bệnh thì “chỉ một mũi tiêm” là kết thúc đời Hoan.

Trước cuộc khai chiến với Việt Nam tháng 2 năm 1979, kẻ đứng đầu Trung Quốc lúc ấy là Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình, tuy là chức Phó nhưng Đặng lại thâu tóm hết quyền lực Trung Nam Hải, đi một loạt các nước Đông Nam Á để rêu rao lôi kéo họ ngả theo Trung Quốc với giọng điệu ngổ ngáo: “Phải dạy cho bọn côn đồ Việt Nam một bài học”. Sau này lãnh đạo Việt Nam nghe từ “côn đồ” sợ nặng nên bỏ đi hai chữ côn đồ. Tới đâu Đặng cũng được sự ủng hộ từ các nước Asean.

Đầu năm 1979, tháng một, Đặng qua gặp Tổng thống Mỹ Jmmy Carter tại Nhà Trắng. Trên đất Mỹ có chỗ Đặng đội mũ phớt, mặc đồ da bò, nhẩy lên lưng ngựa đúng kiểu cowboy như trong các phim hảo hán miền Tây nước Mỹ thuở ngày đầu thành lập Hiệp Chủng quốc Hoa-Kỳ. Khơi lại hình ảnh tình hữu nghị tháng 2/1972 khi Tổng thống Mỹ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc và tham quan Vạn Lý Trường Thành, ra được Tuyên bố chung Thượng Hải. Nhắc lại cuộc tới thăm của Cố vấn Mỹ Henry Kissinger và mật đàm cùng Thủ tướng Chu Ân Lai tháng 7/1971 tại Bắc Kinh. Tài ngoại giao thuyết khách của Đặng rất được người Mỹ ca tụng tán dương, đồng tình ngay lúc đó.

Năm tháng sau chiến sự đẫm máu vào ngày 17/2/1979, Việt Nam chống lại 60 vạn quân cướp nước Trung Quốc trên sáu tỉnh biên giới phía Bắc, từ Phong Thổ, Lai Châu đến Móng Cái, Quảng Ninh dài hơn 1.200 km. Hoàng Văn Hoan đã đào tẩu sang phía kẻ thù muôn kiếp của dân tộc Việt.

Hai ngày sau khi tới Bắc Kinh, Hoan cho họp báo chí quốc tế kể tội trạng của tập đoàn Lê Duẩn. Hoan nói đại để: “Từ những năm 1960 do sức khỏe Hồ chủ tịch kém dần nên bọn Lê Duẩn tiếm quyền. Di chúc của ông Hồ cũng bị bọn Duẩn lấy giấu đi tự động thêm bớt tẩy xóa rất mờ ám. Tình hữu nghị Việt – Trung do Hồ Chủ tịch dày công vun đắp cũng bị bọn Lê Duẩn phá vỡ. Trước tôi, bốn năm khi thống nhất đất nước Việt Nam tới nay đã có 900 nghìn người bỏ nước ra đi. Nay tôi mới đi cũng không có gì lạ, nếu đi được thì cột điện của Hà Nội cũng đã đi...”. Tôi sẽ có thư gửi về báo cho quốc dân đồng bào trong nước sau.

Hoan lên tiếng ủng hộ việc Trung Quốc dạy côn đồ Việt Nam một bài học là đúng. Hoan được Tổng Bí thư Hoa Quốc Phong đón tiếp thịnh tình. Kết thúc buổi họp báo của Hoan, Hoa cũng phụ họa tuyên bố sặc mùi hiếu chiến: “Sẽ đánh vỡ đầu những kẻ phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung“. Đó như một vết nhơ không bao giờ gột tẩy hết của Hoan đối với dân tộc Việt Nam cho dù thanh minh cỡ nào đi nữa. Cho dù Hoan nói vì bất đồng với bọn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ. Cho dù con trai ông, Hoàng Nhật Tân rất có hiếu, đã viết “Thiên Thu Định Luận” (Phả ký gia tộc), để thanh minh cho cha mình, nghĩa là một nghìn năm sau chuyện này mới phân định sai đúng.

Hoan bỏ theo Tầu. Bộ Chính trị niêm phong, thu lại ngôi biệt thự 68 Phan Đình Phùng. Vợ ông, bà Phan Thị Uyển, mẹ đẻ chú Tân trở về 29 Nguyễn Gia Thiều ở với gia đình con trai. Hoan đi, để lại bao hệ lụy cho gia đình, đồng nghiệp, đồng chí, bạn bè và ngay cả những người đồng hương làng Quỳnh Đôi quê tôi.

Tại làng Quỳnh, ngôi nhà ngói năm gian khang trang rộng rãi của Hoan để lại khi ông thoát ly đi hoạt động, tưởng sẽ thành nhà lưu niệm tự hào của làng của xã, bỗng hóa thành đổ nát hoang phế vì bọn trẻ chăn trâu kéo đến cứ gạch đá đất sỏi chúng lượm được ném cho đã tay. Vừa ném chúng vừa chửi rủa thằng phản quốc, thằng phản dân. Không chỉ có trẻ nhỏ mà ngay cả người lớn khi ngang qua cũng tiện tay cúi xuống nhặt hòn đá ném một cục cho bõ giận, chửi một câu cho bõ tức, nhổ một bãi cho bõ hờn.

Đầu năm 1980, Tổng Bí thư Lê Duẩn tức sôi máu, cho Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn nghỉ ở nhà xơi nước. Ủy ban an ninh tạm thời giao cho Lê Đức Thọ. Từ Berlin quay về, Xuân Thủy, người đi kèm Hoan cũng gần như là ngồi chơi. Thư ký của Hoan là anh Nguyễn Văn Thạch bị bắt giam tám năm tù ngay tại sân bay. Anh Y người bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Hoan bị tù ít năm hơn. Cựu thứ trưởng Ngoại thương Lý Ban gốc Hoa bị quản thúc.

Thượng tướng người Nùng Chu Văn Tấn, thân cận với Hoan bị giam lỏng và chết buồn. Ông đã được người ta thay họ đổi tên là Sáu đưa xuống táng ở nghĩa trang Văn Điển-Hà Nội. Tôi, kẻ chứng kiến đám tang lặng lẽ đi bên lề xe đưa linh cữu, cạnh người con trai Chu Thành của ông, lòng vẩn vơ nghĩ về con “Hùm xám Bắc Sơn” một thuở mà tôi đã được chú đại tá Đinh Toán, thư ký riêng của tướng Hoàng Văn Thái , người hàng xóm nhà tôi kể cho nghe chuyện tướng Tấn trên chiến khu Việt Bắc năm xưa. Tang lễ sầu thảm, ảm đạm của tướng Tấn ít người biết năm ấy 1984.

Chưa kể các ban ngành khác thế nào, chỉ biết một loạt sĩ quan công an làng Quỳnh Đôi cùng quê với Hoan trên mọi miền đất nước đều nhận được giấy cho thôi việc. Ở Hà Nội, Bộ công an 15 Trần Bình Trọng cũng như Sở công an 87 Trần Hưng Đạo nhiều người làng Quỳnh mất việc tức tưởi. Bên họ ngoại tôi có dì Hoàng Thị Hạ làm ở Bộ Công an, tưởng nghe phong thanh đợt tới được cất lên hàm trung tá, dè đâu bà nhận tấm giấy thôi việc với lý do sức khỏe kém khi tuổi vừa năm mươi.

Tôi còn có hai người cậu cũng bên ngoại lúc đó mang hàm đại tá công an. Vẫn tiếp tục làm việc nhưng các cậu chỉ đeo hàm đại tá cho tới lúc nghỉ hưu, tôi nghĩ đó là trường hợp đặc biệt lắm. Ông Hoàng Duy Đệ, Hiệu trưởng trường Cảnh sát Thái Nguyên và ông Hoàng Duy Viện, Cục trưởng Cục an ninh Bộ nội vụ. Riêng ông Hoàng Duy Viện, cơ quan an ninh ba lần đề nghị phong tặng anh hùng và phong hàm thiếu tướng nhưng cả ba lần đều bị lãnh đạo Bộ gạt đi. Hai người em họ Hoàng của tôi trong Vinh và trong quê chuẩn bị đi nhận hiệu trưởng trường cấp 1 cấp 2 cũng thôi luôn… Họ hàng bên nhà chú Hoàng Nhật Tân thì thôi, khỏi phải nói, ai cũng biết.

Năm 1982 tôi xuất ngũ. Tới thăm gia đình chú Hoàng Nhật Tân và dì Hồ Thúy ở 29 Nguyễn Gia Thiều. Đứng trước cổng hồi lâu ngỡ ngàng, nhìn ngôi nhà mới án trước ngôi nhà cổ của chú, dì, không còn khoảng sân trống phía trước trông rất chướng mắt khó chịu.

Sau bốn năm xa Hà Nội, xa chú dì đi đánh giặc Tầu bành trướng, nay trở về tới thăm gia đình, chú Tân, dì Thúy mừng rỡ đón tiếp tôi. Cảm tưởng của tôi ngày nhỏ mỗi lần đi qua phố Nguyễn Gia Thiều (Ôn Như Hầu) để ra hồ Ha-le (Hồ Thiền Quang) bơi lội cùng đám bạn vui sao, thì bây giờ ngược hẳn lại. Dì mở toang hai cánh cửa chính nhưng nhà vẫn tối thui như nhà mồ vì bị ngôi nhà tầng phía trước chắn mất ánh sáng.

Dì Thúy kể cho tôi nghe nhiều chuyện xảy ra trong gia đình từ khi ông Hoan bỏ nước sang Trung Quốc. Ông Hoan đi, khách khứa của gia đình cũng chẳng mấy ai lui tới nữa, chú, dì cũng thông cảm cho mọi người. Cái nhà đối diện bên kia phố, cửa sổ không bao giờ mở như ngày trước, nhưng dì biết bên trong nhà đó vẫn có ánh mắt ngầm dõi theo bên nhà này, ai vào ai ra, bởi vì nhà đó đã được đổi cho một tay công an đến ở.

Nhà dì ra Hà Nội bao nhiêu năm cùng nhà cháu có khi nào ai đến quét vôi cho mình đâu. Nay bỗng có một bọn mặc áo thợ sơn vôi, xách xô, xách chậu, mang thùng, mang chổi đến, đề nghị chú, dì cho thợ vào dọn dẹp bên trong, quét vôi để làm đẹp nhà, đẹp khu phố. Các nhà hàng xóm vẫn im lìm chỉ riêng nhà dì có cái ưu đãi ấy.

Dì đã nghi nghi nên dì đuổi bọn đó đi hết. Chúng nó ma giáo lắm cháu không biết đâu. Nó vào để ăn cắp, chụp ảnh, nhặt nhạnh thu lượm tin tức, đặt máy ghi âm, làm sao qua được mắt dì. Cái nhà mới nhẩy vào xây chắn ngang trước mặt nhà mình đây cũng là nhà thằng đại tá của bộ công an. Nếu ông Hoan còn ở nhà thì có đến mười đời cố nội nó cũng đố dám ngang ngược. Dì nghiến hai hàm răng mà tôi phát ớn.

Trời chiều đã muộn, tôi đứng dậy chào chú, dì ra về. Dì nói với theo: Cháu vào ra nhà này, chúng nó nhận diện hết đấy, có sợ không? Rồi dì tự trả lời: Con nhà anh Tự Cường (tên thật của cha tôi) thì cũng giống cha nó, tính khí cứ ngang ngang, ngạnh ngạnh chẳng sợ đứa nào.

Ông Hoan im tiếng bất ngờ đi trong gia đình chú Tân không ai biết. Thời điểm ấy chú Tân chuẩn bị nhận quyết định bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Sử học thì bị đình lại, nghỉ ở nhà. Dì Thúy, vợ chú, bị nghỉ việc ở Đảng ủy quận Hoàn Kiếm. Anh Hoàng Thái, con trai trưởng, đang là giảng viên trường sĩ quan Nha Trang, ra khỏi quân đội, thuyên chuyển công tác đi vùng xa. Chị Hoàng Thơ, thạc sĩ, em kế, cũng ngồi nhà thêu thùa đan lát. Anh Hoàng Thông con út, kỹ sư Nhà máy Công cụ cũng mất việc luôn, phất phơ làm ngoài. Mọi thành viên trong gia đình đi đâu, làm gì cũng đều bị theo dõi nghiêm ngặt.

Những năm đó mà thất nghiệp quả là kinh khủng. Cả nhà chú Tân thất nghiệp mới hãi hùng làm sao. Bà Hoan tuổi cao, tai lãng, ốm đau suốt, lúc tỉnh lúc lẫn, nhất là từ lúc nghe tin ông Hoan bỏ ra đi. Nhiều khi bà ỉa vì ỉa và ra giường chiếu, ra cả quần, có khi be bét phân với nước đái trên nền nhà. Chú Tân lại lặng lẽ đi lau chùi tắm rửa cho mẹ mình. Chú bón từng thìa ăn, chăm từng giấc ngủ cho mẹ. Có lúc bà bỏ nhà đi lang thang trên khắp phố phường Hà Nội để mong tìm được ông Hoan. Chú Tân đi tìm bà bạc cả mặt.

Có khi bà tới vườn hoa Canh Nông đối diện với Cột cờ, đứng dưới pho tượng ông Lê Nin giơ hai tay gào khóc đòi ông tượng Tây giấu chồng bà ở đâu thì thả ngay ra. Lúc thì bà lại chạy đến Đại sứ quán Trung Quốc sau đít ông Lê Nin gần đấy, nhổ nước bọt phì phì vào cổng, chửi rủa đòi thả chồng bà ra. Các an ninh đứng canh ngoài cổng chạy tới giữ tay, trông trừng bà, họ đã biết bà là ai.

Có lúc bà đến đầu phố Cao Bá Quát để vào nhà em ruột ông Hoan là thứ trưởng Hoàng Ngọc Nhân, đòi đi tìm anh ruột mình về cho bà thì lại đập nhầm cửa nhà ông thứ trưởng Đinh Nho Liêm, ở số 3 , ầm ầm. Mỗi lần tìm thấy mẹ mình ở đâu, chú Tân lại giỗ dành, cõng bà trên lưng với bao con mắt nhìn theo thương cảm. Họ có ngờ đâu đó là vợ con ông Ủy viên Bộ Chính trị Hoàng văn Hoan. Trong túi chú Tân không có nổi một cắc làm sao dám gọi xích lô chở hai mẹ con về.

Tưởng khó bó khôn, hóa ra cái khó ló khôn. Dì Thúy học nghề làm sữa đậu nành cất vào chai. Trưa đến, chú Tân lóc cóc chuyên chở đem bán lẻ cho các gia đình ở mọi nơi. Lúc chú “lên voi” tôi chẳng được biết, nhưng khi chú “xuống chó” thì tôi thấy rõ lắm.

Năm 1990, các nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Chú Tân lần nữa có ý định góp phần hòa giải bất đồng giữa cha chú với cơ quan lãnh đạo Đảng xảy ra năm 1979. Những mong góp một phần công sức nhỏ của mình trong việc xúc tiến bình thường hóa quan hệ Việt – Trung. Xin Trung ương Đảng, lãnh đạo cơ quan Nhà nước tuyên bố xóa án tử hình cho cha của chú. Xin Đảng cho sang Trung Quốc thăm cha. Trước đó Lê Đức Thọ xúi chú Tân đi thăm Hoan qua đường Thái Lan, dạng vượt biên, nhưng chú Tân từ chối.

Nguyễn Văn Linh đang hoang mang lo sợ, nghe tin vợ chồng Tổng thống Ceausescu của Romania bị nhân dân đem ra xử tử hình giữa thủ đô Bucarest cuối năm 1989, người mà Linh vừa mới gặp, trò chuyện không lâu trước đó tại cuộc họp khối cộng sản chủ nghĩa ở Đông Âu. Rất có thể lắm, một ngày nào đó gần đây, dân Hà Nội cũng vùng lên như dân Bucarest, xách đầu vợ chồng Linh ra trước sân lăng Ba Đình cắt cổ. Nay thấy Hoàng Nhật Tân đề nghị xin cho sang thăm cha ở Trung Quốc, Linh nẩy ý định cần phải giúp đỡ. Có thể đây là dịp cứu Linh để đạt được mưu đồ riêng, nhất cử lưỡng tiện???

(Còn tiếp)

Ông Hoàng Văn Hoan đang viết: “Việt Trung hữu nghị, vạn cổ trường thanh”. Ảnh: Dương Tự Lập

Ông Hoàng Nhật Tân với tác phẩm Nguyễn Trường Tộ. Ảnh: Dương Tự Lập gửi tới

Bà Hồ Thúy, vợ ông Hoàng Nhật Tân và cô Hoàng Thơ con gái ông, bà. Nguồn ảnh: Dương Tự Lập

Trang báo điện tử của Đảng CSVN và “đồng chí Hoàng Văn Hoan”. Ảnh chup màn hình

Cuốn “Thiên Thu Định Luận” của ông Hoàng Nhật Tân ký tặng tác giả Dương Tự Lập. Nguồn: Tác giả gửi tới

https://baotiengdan.com/…/thien-thu-dinh-luan-va-nguoi-ban…/

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=10157152928204679&id=85922774678&__tn__=K-R

“Thiên Thu Định Luận” và người bạn sử học của cha

Dương Tự Lập

(Phần 2)

Ngày 14/4/1990, chú Tân cùng mẹ đẻ và con trai trưởng được phép của Đảng, Nhà nước, chính thức sang Trung Quốc (lần đi đầu) thăm lại cha mình hơn mười năm cách biệt. Sau bốn tháng ở chơi với cha, chú Tân và gia đình trở về ngày 10/8/1990. Ba ngày sau, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có thư tay và đem xe hơi Lada tới nhà riêng đón chú Tân đến số 2 Nguyễn Cảnh Chân, nơi làm việc của Linh, gặp gỡ.

Sau mấy tiếng ngồi nói nhỏ to, Linh hết sức phấn khởi, lại cho xe con đem chú Tân chở về tận nhà. Ngày 16/8, chú Tân lặng lẽ đến sứ quán Trung Quốc ở 46 Hoàng Diệu, nơi mà trước đây mẹ chú đã từng đến đó tìm chồng mình rồi nhổ nước bọt phì phì vào cổng hôm nào, gặp Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn.

Nghe thấy tiếng người nói, Trương Đức Duy, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền từ phòng trong đi ra bắt tay chú Tân, với thái độ thân mật và trang trọng. Chú Tân chuyển lời thăm cũng như thuật lại cuộc nói chuyện với Nguyễn Văn Linh, ý nguyện của Linh như thế, như thế… Đại sứ Trương tỏ ra phấn khởi và kể cho chú Tân chuyện này:

– Vừa qua, Thứ trưởng Từ Đôn Tín gặp Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Ông Thạch đã có cử chỉ khiếm nhã, lăm lăm nắm tay đập xuống bàn, khiến cho buổi tiếp xúc mất hết không khí thân thiện xã giao bình thường. Quả là trái hẳn với tinh thần đoàn kết của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Thật ra, Thứ trưởng họ Từ gặp ông Thạch chỉ nói lải nhải nhiều về vấn đề Campuchia, rất khó chịu, nên làm ông Thạch nổi đóa. Mấy ngày sau Nguyễn Cơ Thạch mời chú Tân đến văn phòng riêng ở số 14 Nguyễn Gia Thiều của ông, cũng gần nhà chú Tân, nói chuyện. Ông Thạch kể lại sự việc hôm ấy ông đập bàn, bắt Từ Đôn Tín im miệng, không nói đến vấn đề Campuchia.

Nắm được thông tin quan trọng này từ Hoàng Nhật Tân, Đại sứ Trương Đức Duy bỏ qua Bộ Ngoại giao Việt Nam, đi ô-tô màu đen không cắm cờ Trung Quốc, tới thẳng Bộ Quốc phòng, gặp gỡ riêng tướng Anh chột. Lê Đức Anh phấn chấn, niềm nở tiếp Đại sứ Họ Trương, và ngay sau đó báo cáo lại cho Linh hay.

Tại sao Trương Đức Duy lại chọn đi gặp Lê Đức Anh trước mà không gặp ai khác? Việc này cũng do Cục Hoa Nam và Trung Nam Hải điều hành. Hoa Nam Cục nắm rất rõ lý lịch của ông cai Anh chột cũng như “chiến công” của Anh chột thời còn cầm quyền Bộ trưởng Bộ quốc phòng để binh lính đổ máu với Trung Quốc trên biên giới phía Bắc năm 1979, kéo dài mười năm đến 1989.

Lê Đức Anh đã để mất nhiều phần đất đai rơi vào tay Trung Quốc. Số đất Trung Quốc chiếm được của Việt Nam tính ra bằng một tỉnh lớn của miền Bắc. Lê Đức Anh, tội đồ của dân tộc, chưa hết, Anh chột còn là tội đồ của 64 người lính trẻ chết thảm tại thảm sát Gạc Ma khi Anh chột có lệnh mồm không được nổ súng trước quân Trung Quốc ngày 14/3/1988. Đảo mất, người cũng mất, Quốc gia nhục nhã.

Chưa hết, gần hai tháng sau đó, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh dự lễ kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống Quân chủng Hải quân Việt Nam (7/5/1955 — 7/5/1988). Trong lời thề Trường Sa của tướng Anh không có một từ ngữ nào nói nặng nói nhẹ Trung Quốc ngoài sự cảm ơn và ngợi ca Trung Quốc mà thôi.

Sợ Trung Quốc, cai đội Anh chột còn sợ một kẻ đao phủ nữa trên mình là Lê Đức Thọ hơn cả sợ cọp. Cứ mỗi lần được gọi đến gặp Sáu búa Lê Đức Thọ, tại nhà riêng của Thọ, thì Anh chột sợ hãi, khoanh hai tay trước bụng cúi đầu đi vào. Lúc ra về cũng cúi đầu đi thụt lùi, thụt mãi đến tận khuất hẳn sau cánh cổng lớn mới dám quay đầu dông thẳng.

Là tướng nhưng có một lần, trong cuộc họp nói chuyện tại Trường cán bộ cao cấp quân đội, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh nói về việc chống Diễn biến Hòa bình. Tướng Anh đã bêu xấu ông nhân sĩ yêu nước Lý Chánh Trung thuộc thành phần phản động là tự diễn biến là trở cờ. Không ngờ có một đại úy sĩ quan bỗng đập bàn đứng phắt dậy quát tướng Anh: Nói láo! Nếu ông ngồi đối diện thì tôi đã tát vỡ mặt ông, rồi người lính đó bỏ đi. Anh là ai? Người ấy là Lý Tiến Dũng con trai nhân sĩ yêu nước Lý Chánh Trung, là người vừa bị Anh chột bêu xấu. Sau này Dũng cởi bỏ áo lính, đi học báo chí và trở thành Tổng Biên tập dũng cảm của tờ báo Đại Đoàn Kết.

Tại Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình – một kẻ mưu mô xảo quyệt giàu lòng thâm dạ hiểm, nhận được báo cáo của Đại sứ Trương Đức Duy báo về rất mừng. Với trí tuệ siêu đểu cáng của họ Đặng thì việc lừa mấy lão già nua quê mùa Việt Nam dễ như giỗ trẻ con ăn kẹo. Đặng bắt mạch kê đơn biết tỏng được Linh đang tâm trạng rất hoang mang, lo sợ trước sự kiện Đông Âu. Đặng hứa sẽ tiếp kiến tại Thành Đô-Trung Quốc, nhưng rồi Đặng đã lánh mặt không thèm gặp khi mấy ông già nước Việt ngô nghê đặt chân tới Thành Đô, để mặc đàn em ra tiếp.

Hội Nghị Thành Đô – hay Mật Ước Thành Đô, là cuộc đi đêm đê tiện, hèn mạt của bọn bán rẻ dân tộc Việt này bắt đầu từ đây. Ngày 2/9/1990, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) tuổi 75, kẻ một thời viết hàng loạt bài trên báo Nhân Dân ký tên “N-V-L”, tức “Nói Và Làm”. Sau nghe nhàm tai bị nhân dân chửi đồng chí “Nói Và Lờ” – “Nhổ Và Liếm” loại khỏi vòng Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch (Phạm Văn Cương). Coi khinh cả dân tộc Việt Nam. Kéo theo em Đỗ Mười (Nguyễn Duy Cống) tuổi 73, xuất thân từ một gã vai u thịt bắp quê mùa chuyên nghề cắt dái lợn, đồng thời là kẻ thất phu phá tan Thành Hồ năm 1978, với sáng kiến “Cải tạo công thương” cùng anh Tô – Phạm Văn Đồng tuổi 84 , (tuổi ba ông ở độ tinh hoa phát tiết ra ngoài) tới Thành Đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc, họp kín trong hai ngày 3 và 4 tháng 9/1990.

Nỗi nhục của cuộc họp này sẽ kín như bưng nếu như tờ Hoàn Cầu Thời báo, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc và tờ China Daily bằng tiếng Anh không tung ra, rêu rao nhạo báng mấy lão già Việt Nam ngu xuẩn bị lừa vào tròng. Về nước, nghĩ lại, ông Tô-Phạm Văn Đồng lắc đầu: “Mình dại dột quá nên đã bị chúng nó lừa”.

Đồng từng là thủ phạm ký Công hàm năm 1958 gửi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng ý tôn trọng chủ quyền về hải phận 12 Hải lý của Trung Quốc ngày 4/9/1958 mà ông Nguyễn Khắc Mai , một người cẩn trọng, nguyên là Vụ trưởng Vụ nghiên cứu – Ban Dân vận Trung ương – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Minh triết phẫn nộ: “Một văn bản, Công hàm phản động”.

Chú Dương Danh Dy cũng họ Dương nhà tôi từng làm Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1978-1979 khốc liệt của cuộc chiến biên giới phía Bắc bốn mươi năm trước. Học giả hàng đầu nghiên cứu vấn đề về Trung-Quốc, là người đầu tiên đưa hồi ký: “Hồi ức và Suy nghĩ” của Ngoại trưởng Trần Quang Cơ lên internet. Cuốn hồi ký của ông Cơ, người rất nhân cách, từ chối lời mời của Đỗ Mười, thế chân Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Ông Cơ có thâm niên hơn bốn mươi năm trong ngành ngoại giao, vạch ra sai lầm thất bại thảm hại ê chề của Hội Nghị Thành Đô mà Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch phải lần nữa đập tay xuống bàn than: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”.

Chú Dy cũng là người đầu tiên viết trên báo quốc tế BBC về thất bại Hội Nghị Thành Đô 1990. Chú mới mất cách nay vài tháng. Tuyệt nhiên không có báo chí nào của Đảng, Nhà nước đưa tin, chẳng ai biết để mà đến phúng viếng thắp hương, nghiêng mình về lòng yêu nước của một con người chân chính. “Tội trạng” chú là vạch ra quá nhiều chuyện bẩn thỉu của thiên triều cộng sản Trung Quốc đối với Việt Nam, mà việc đó thì triều đình cộng sản Việt Nam cấm tuyệt đối.

Xa quê hương nhiều năm trở về, năm 2010, tôi cùng em trai Lê Chí Nguyện tới thăm gia đình chú Hoàng Nhật Tân. Trong lòng tiếc vì để mất cuốn sách Giọt Nước Trong Biển Cả bằng tiếng Anh “A drop in the Ocean”, Hoang Van Hoan`s Revolutionary Remeniscences´ Nhà xuất bản Foreign Languages Press, Beijing 1988, mà tôi mua trong hiệu sách quốc tế Hugendubel tại Munich năm 1992 , có ý định biếu chú.

Lúc này nhà chú đã dời sang 29 Nguyễn Gia Thiều, chuyển về ở phòng 102 – E5b tập thể Trung Tự, Đống Đa, gần nhà tôi. Chú đã yếu, bắt đầu có biểu hiện nói lẫn và nặng tai nhưng vẫn ngồi tiếp được chuyện với tôi rất lâu, nhiều nỗi niềm uẩn khúc nhức nhối trong lòng. Tôi linh cảm đây là lần cuối cùng gặp chú. Lúc tôi gần ra về, chú mới rút cuốn phả ký gia tộc, “Thiên Thu Định Luận” trên kệ sách mà chú là tác giả, ký tặng tôi. Chú nói: Trong gia đình anh Dương Quân, chú biết thằng Lập có thể làm được việc gì đó, nên chú tặng cháu cuốn này, biết đâu đấy…!!!

Đầu năm 2014 ở Đức, nhận được tin dữ từ nhà báo sang, chú Hoàng Nhật Tân qua đời. Ở tuổi 89 chú đi, như thế cũng vào diện thọ. Nghĩ đến chú, tôi lại nhớ đến lời mẹ tôi lúc sinh thời, bà thường ca ngợi chú Tân, người con có hiếu. Đúng! Viết “Thiên Thu Định Luận” thanh minh về việc bỏ nước ra đi của Hoàng Văn Hoan chính là chú rất có hiếu với cha mình, cho dù một nghìn năm sau, sau nữa, nhân dân Việt Nam cũng không chấp nhận hành động quay lưng lại với dân tộc của Hoàng Văn Hoan , nương thân cuối đời trên đất Trung Hoa.

Trung Quốc – kẻ thù thiên thu. Đừng quên lời nói đầu trong Dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1980 ghi rõ: “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của dân tộc”. Một nghìn năm có tới mười bẩy lần cướp nước Việt, nhưng đều bị đánh cho đại bại, tan tác ô nhục. Cái độc nhất là cuộc chiến mở đầu trong lịch sử Việt Nam đánh Trung Quốc cướp nước lại thuộc về phái yếu, thuộc về những người phụ nữ chân yếu tay mềm hai chị em Trưng Trắc – Trưng Nhị. Những người của phái mặc Si-líp đeo Coóc-sê đánh giặc Tầu thế mới ghê chứ. Có phụ nữ nào trên thế giới mà được như phụ nữ dân tộc Việt tôi.

Chuyện của chú Hoàng Nhật Tân cuối đời thanh minh và làm sáng tỏ vấn đề của Hoàng Văn Hoan, cha đẻ mình, đúng ra có ý định từ sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn chết một thời gian. Nếu Ba Duẩn chưa lìa đời thì đó là việc khó có thể thực hiện.

Không quản thời tiết Hà Nội thất thường mưa nắng, chú lóc cóc đạp xe tới Trung ương Đảng cộng sản Ba Đình. Chú đạp xe tới Văn phòng Quốc hội và nhà riêng số 3 Nguyễn Cảnh Chân, gặp Trường Chinh (Đặng Xuân Khu). Chú đến Phủ thủ tướng và tới nhà riêng số 5 Hồ Tây, gặp ông Phạm Văn Đồng. Chú tới khu nhà riêng của ông Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) ở số 6 Nguyễn Cảnh Chân, để hỏi về bản án tử hình ngày 26/6/1980 mà Chính quyền Việt Nam tuyên bố xử vắng mặt Hoàng Văn Hoan.

Đã không được việc mà tất cả các ông này đều nối gót nhau cũng lần lượt chết hết. Sau chú lại tiếp tục tìm đến nhà Nguyễn Văn Linh. Đến nhà riêng gặp Đỗ Mười ở 11 Phạm Đình Hổ và nơi làm việc số 4 Nguyễn Cảnh Chân. Chú tới Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam số 48 Lý Thường Kiệt. Ở đó họ cũng trả lời chú, là họ chưa bao giờ nhận và thấy bản án tử hình nào như vậy, dẫu họ cũng đã từng được nghe nói đến. Ngay cả tộc trưởng họ Hoàng làng Quỳnh Đôi đã ba lần dẫn đoàn họ Hoàng ra Hà Nội để xin bằng được bản sao phô-tô-cóp-pi tử hình Hoàng Văn Hoan đem về làm vật chứng sau này, cũng được trả lời không có.

Theo các bậc bô lão họ Hoàng làng Quỳnh Đôi phân tích thì có hai khả năng. Một là không có bản án tử hình ấy, chỉ vì Hoàng Văn Hoan cao tay hơn lừa qua cả bậu xậu Bộ Chính trị nên bọn Duẩn – Thọ mới điên ruột tuyên bố mồm là tử hình vắng mặt Hoan. Hai, nếu có thật thì sau khi các ông ấy chết, mấy đứa em thế hệ sau cũng đã coi như mớ giấy lộn quăng vào sọt rác tiêu rồi. Giữ lại chả lợi lộc gì mà còn mang vạ với thằng Tầu vì dẫu sao Hoàng Văn Hoan cũng như là một Ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc. Chắc cũng không có bản án tử hình đó thật, hoặc cũng bị vứt đi.

Tròn vành vạnh 5 năm chú Hoàng Nhật Tân rời cõi tạm và cũng tròn 40 năm ngày cha chú, ông Hoàng Văn Hoan bỏ nước sang Trung Quốc. Trời đã không phụ công chú, những năm xưa rất vất vả vì danh dự của cha. Hai năm sau ngày chú về nằm bên cha mẹ chú trên quê hương Quỳnh Đôi, Nghệ An, báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, nhà nước và nhân dân trên mạng internet, đã chính thức công bố tên tuổi đồng chí Hoàng Văn Hoan đứng cùng hàng ngũ các đồng chí trong Đảng cộng sản Việt Nam năm 2016.

Cũng thời điểm trên, hàng vạn ngàn cuốn sách: Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt. Đặng Tiểu Bình-nhà kinh tế chính trị lỗi lạc. Con đường phi thường của Đặng Tiểu Bình. Cha tôi Đặng Tiểu Bình… Được in ấn giấy cực đẹp, được in ra với số lượng cực lớn, được tái bản mỗi lần cực nhiều, không cần sách phải qua kiểm tra kiểm duyệt nào hết.

Đặng Tiểu Bình người bạn thân thiết của Hoàng Văn Hoan cha chú, người anh tôn kính của Đảng cộng sản Việt Nam, tử thù của nhân dân Việt Nam, có nhiều sách về ông ta được xuất bản ở Việt Nam. Trong khi ta chỉ có mỗi cuốn sách: “Gạc Ma-vòng tròn bất tử” của người Việt chúng ta, chủ biên chính là người trong cuộc đánh bọn Đặng Tiểu Bình cướp nước 40 năm trước. Đó là cựu chiến binh, thiếu tướng Lê Mã Lương và Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm. Sách đi qua hàng chục nhà xuất bản, gây tranh cãi thảo luận hàng trăm buổi. Số lần chỉnh sửa cao tới hai mét giấy.

Sách vừa được đồng ý in ấn ngày đầu, thì ngay ngày hôm sau có lệnh thu hồi. Hân hoan đón nhận cuốn sách là người dân yêu nước. Hậm hực chống lại cuốn sách là những thằng tướng lôm côm không số má tên tuổi, không biết từ lỗ nào chui ra, còn nhục nhã và đê tiện nào hơn so với hai người phụ nữ Trưng Trắc Trưng Nhị thuộc phái yếu, mặc Si-líp đeo Coóc-sê đánh bọn cướp nước Trung Quốc. Là con cháu trong nhà, đầu xuân 2019 này, cháu có lời mừng gửi theo hương hồn chú, mặc dù chỉ với Đảng thôi, chứ với dân tộc, thì cha chú vẫn là kẻ có tội.

Người phương Đông xưa có câu: “Phụ thù bất cộng đái thiên / Tử đạo tu dương ái nhật”. Nghĩa là: Thù cha không đội trời chung / Phận làm con ngày ngày nuôi chí. Tôi đồng ý chú Tân với Thiên Thu Định Luận, tôi đồng ý chú Tân nuôi chí trả thù cho cha, đó là người con có hiếu.

Trên bàn giấy, trước mặt tôi là cuốn “Thiên Thu Định Luận” của chú Hoàng Nhật Tân thân tặng. Thưa chú Tân, cháu biết nói sao như lòng tin cậy của chú trao tặng cho cuốn sách này?

Thay cho lòng thành của mình, bài viết như nén tâm nhang. Xin được tưởng nhớ đến bạn bè, đến đồng đội, đến chiến hữu, đến các em của tôi, những người không may mắn nằm lại trên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống bọn bành trướng Trung Quốc kéo dài mười năm, từ năm 1979 đến 1989. Cũng là nén tâm nhang dâng lên chú Hoàng Nhật Tân, người bạn thân thiết của cha mẹ, người chú kính trọng của anh chị em tôi.

Triết gia lẫy lừng người Pháp Voltaire của thời đại Khai sáng ở thế kỷ 18 đã nói: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói nhưng tôi có thể chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó” (*). Cháu không đồng ý sự bội phản của cha chú nhưng cháu đồng ý chú thanh minh bảo vệ cho sự bội phản đó. Vậy thì ngược lại, chú có ghét cháu Tự Lập bao nhiêu đi nữa, nhưng xin chú bảo vệ cái quyền được nói lên chính kiến của cháu trong bài viết này chú nhé.

Munich – Germany
Tháng 2/1979 – tháng 2/2019
Dương Tự Lập

___

(*) Câu nói này không phải của Voltaire, mà là của Evelyn Beatrice Hall, nguyên văn như sau: “I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it.”


Cuốn “Thiên Thu Định Luận” của ông Hoàng Nhật Tân ký tặng tác giả Dương Tự Lập. Nguồn: Tác giả gửi tới








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét