Đặng Phúc
Lai
Một bạn
có giữ được một số bản thảo của Đặng Phúc Lai đã quá cố vừa gửi cho tôi một bài
viết của anh. Bạn ấy cho biết bài này cũng như nhiều bài viết khác của Đặng
Phúc Lai chỉ tồn tại dưới dạng photocopy tản mát trong số bạn bè được anh gửi
cho đọc, chứ không một ai sở hữu toàn bộ những gì anh viết. Tôi đưa bài này lên
để chiều lòng những bạn muốn được đọc thêm về Đặng Phúc Lai. Tôi, thú thực,
không hiểu được bao nhiêu trong lĩnh vực tâm linh được anh Đặng Phúc Lai đề cập
trong bài viết này. Xin các bạn quan tâm coi đây là một tài liệu tham khảo.
(phần 1)
Từ một hai thập kỷ nay, "tâm linh" trở thành một từ khá phổ dụng cả trong giới học thức, cả trong giới bình dân. Nguồn gốc: Một là, do người dân, đặc biệt ở miền Bắc "xã hội chủ nghĩa" được thông tin nhiều về những hiện tượng lạ, trước đây được xem một cách sơ lược chủ nghĩa nếu không muốn nói là ngu dân chủ nghĩa là mê tín , dị đoan hoặc lạc hậu, lỗi thời; Hai là, ngay trong lòng quốc nội, ngày càng có nhiều "người thật việc thật" chứng minh cho cái mà cả người học thức lẫn quảng đại dân chúng gọi một cách dễ dãi là "ngoại cảm".
Ngay trong thế kỷ 20, giữa cao trào của khoa học kỹ thuật, nhiều danh nhân của các môn học thuật tự nhiên và nhân văn đã thấy ở Tâm Linh như chân lý cho con người hướng đến. Tạm kể Julius Robert Oppenheimer: “Những ý niệm tổng quát về sự hiều biết của nhân loại…,được minh hoạ bằng những khám phá trong vật lý học nguyên tử, lại không phải là những sự việc hoàn toàn xa lạ, mới mẻ hoặc chưa hề nghe nói tới. Ngay trong nền văn hoá của chúng ta, chúng đã có một lịch sử, và trong tư tưởng Phật giáo và Ấn giáo, chúng giữ một địa vị lớn lao và trọng yếu. Điều chúng ta sẽ tìm thấy là một tấm gương sáng, một khích lệ và một sự tinh lọc của nền minh triết lâu đời.” Hoặc Niels Bohr: “Để tìm sự tương đồng với bài học của lý thuyết nguyên tử… chúng ta phải quay về với những vấn đề nhận thức mà các nhà tư tưởng như Phật và Lão tử đã phải đối diện, khi cố gắng hoà hợp vị trí của ta vừa là diễn viên, vừa là khán gỉa trong Vở Kịch Lớn Của Kiếp Nhân Sinh.” Hoặc Fritzof Capra: “Nếu ngày nay vật lý học đưa chúng ta tới một thế giới quan với bản chât Huyền Học thì một cách nào đó nó đã trở về lại với buổi sơ khai của nó 2500 năm trước đây.” Hoặc André Malraux: “Khoa học của thế kỷ 21 sẽ là khoa học Tâm Linh, hoặc sẽ không còn khoa học nữa”.
Đến tận những năm 90 nhân dân ta mới bắt đầu "bén duyên" với "tâm linh" thì, thực thà mà nói, không lấy gì làm "tiên tiến" cả.
Do ý nghĩa và vai trò của tâm linh trong hiện thực nhân sinh của thế kỷ này, chúng ta phải cùng nhau minh định, xác quyết vấn đề trong tinh thần thực sự cầu thị, thay vì e ấp, sợ sệt hoặc loay hoay, lúng túng (trong cái mà mọi người cứ gọi là khoa học mà thiếu tìm hiểu cặn kẽ trong chừng mực có thể của "ngoại đạo").
Tiểu luận này cố gắng đi sâu vào đề tài trong ba phần:
Ngay trong thế kỷ 20, giữa cao trào của khoa học kỹ thuật, nhiều danh nhân của các môn học thuật tự nhiên và nhân văn đã thấy ở Tâm Linh như chân lý cho con người hướng đến. Tạm kể Julius Robert Oppenheimer: “Những ý niệm tổng quát về sự hiều biết của nhân loại…,được minh hoạ bằng những khám phá trong vật lý học nguyên tử, lại không phải là những sự việc hoàn toàn xa lạ, mới mẻ hoặc chưa hề nghe nói tới. Ngay trong nền văn hoá của chúng ta, chúng đã có một lịch sử, và trong tư tưởng Phật giáo và Ấn giáo, chúng giữ một địa vị lớn lao và trọng yếu. Điều chúng ta sẽ tìm thấy là một tấm gương sáng, một khích lệ và một sự tinh lọc của nền minh triết lâu đời.” Hoặc Niels Bohr: “Để tìm sự tương đồng với bài học của lý thuyết nguyên tử… chúng ta phải quay về với những vấn đề nhận thức mà các nhà tư tưởng như Phật và Lão tử đã phải đối diện, khi cố gắng hoà hợp vị trí của ta vừa là diễn viên, vừa là khán gỉa trong Vở Kịch Lớn Của Kiếp Nhân Sinh.” Hoặc Fritzof Capra: “Nếu ngày nay vật lý học đưa chúng ta tới một thế giới quan với bản chât Huyền Học thì một cách nào đó nó đã trở về lại với buổi sơ khai của nó 2500 năm trước đây.” Hoặc André Malraux: “Khoa học của thế kỷ 21 sẽ là khoa học Tâm Linh, hoặc sẽ không còn khoa học nữa”.
Đến tận những năm 90 nhân dân ta mới bắt đầu "bén duyên" với "tâm linh" thì, thực thà mà nói, không lấy gì làm "tiên tiến" cả.
Do ý nghĩa và vai trò của tâm linh trong hiện thực nhân sinh của thế kỷ này, chúng ta phải cùng nhau minh định, xác quyết vấn đề trong tinh thần thực sự cầu thị, thay vì e ấp, sợ sệt hoặc loay hoay, lúng túng (trong cái mà mọi người cứ gọi là khoa học mà thiếu tìm hiểu cặn kẽ trong chừng mực có thể của "ngoại đạo").
Tiểu luận này cố gắng đi sâu vào đề tài trong ba phần:
Lược điểm những bước tiến của
khoa học
Khoa học, như chúng ta "mặc nhiên" hiểu và thực tiễn ứng dụng có nguồn gốc phát sinh, theo nghĩa "thô", cách nay không xa lắm, nó bắt đầu từ năm … Năm 1632, Galilée công bố tác phẩm "Cuộc đối thoại liên quan đến hai hệ thống thế giới" (ông muốn nói tới hệ địa tâm của Ptolémée trị vì từ thời cổ đại, đặc biệt dưới sự "bảo trợ" của một quyền uy là Aristote đến thời đó và hệ nhật tâm được chứng minh trong tác phẩm De Revolutionibus Orbium Celestium, 1543 của Copernic, sau này được bổ xung bằng 3 định luật quay của Trái Đất chung quanh Mặt Trời mà Kepler, dựa trên những dữ liệu thiên văn đồ sộ và phong phú của Tycho Brahé, một người theo thuyết địa tâm , trình bầy trong Harmonice Mundi, năm 1619. Vì nói đến "quay" là nói đến chuyển động nên Galilée bắt đầu nghiên cứu cái sau này được gọi là "cơ học". Ông bác bỏ quan điểm của Aristote cho rằng chuyển động và đứng yên là hai hiện tượng tuyệt đối loại trừ nhau, Vì mỗi chuyển động đều gây ra nơi "động tử" những thay đổi trong cấu trúc nội tại của nó, theo nghĩa mỗi vật thể đều có một "trú xứ riêng" của nó, đó là chỗ nó đứng yên, bị kéo ra khỏi đó, nó có "thiên hướng"chuyển động về đó để "được đứng yên". Và mọi chuyển động đều có nguyên nhân, nó chỉ kết thúc khi nguyên nhân kết thúc - Cessante causa, cessat effectus - Theo Galilée, chuyển động chỉ là sự rời chỗ thuần tuý trong không gian, là sự thay đổi khoảng cách giữa một vật này với một vật khác mà ta có thể c họn làm "mốc", sau này gọi là hệ quy chiếu (référentiel), như vậy đương nhiên chẳng có liên quan gì đến cấu trúc nội tại của vật cả. Từ đó chuyển động hay đứng yên chỉ là tương đối, đó là nội dung của cái sau này H. Poincarré gọi là Nguyên Lý Tương Đối, hoặc còn được biết dưới cái tên là Nguyên Lý Bất Biến (principe d' invariance) làm nền tảng cho khoa học cổ điển , và được Einstein phát biểu chi tiết như sau: "Cho hai hệ quy chiếu tịnh tiến đều với nhau, những quy luật của sự thay đôỉ trạng thái mà các hệ vật lý phải tuân theo đều có dạng thức y hệt nhau dù sự thay đổi đó được quy về hệ quy chiếu nào trong hai hệ". (Nói chung tất cả những hệ quy chiếu tịnh tiến, tức là chuyển động thẳng đều đối với nhau "đều tương đương", và chính Galilée cũng từng nói đến lớp các hệ quy chiếu tương đương - classe de refẻrentiels équivalents). Từ đó, tóm lại, và xét cho cùng, "chuyển động" là và chỉ là Vấn Đề Quan Điểm và "Tương Đối' có nghĩa là nghiên cứu những Quan Điểm Tương Đương. Chuyển động cũng không bắt buộc phải có nguyên nhân, nói cách khác, chuyển động có thể vẫn tiếp tục dù nguyên nhân ban đầu gây ra chuyển động đã chấm dứt, đó chính là nội dung của Nguyên Lý Quán Tính, sau này Einstein đặt tên là Nguyên Lý Galilée : "Một chất điểm bỏ mặc cho chính nó và ở đủ xa các chất điểm khác sẽ chuyển đông thẳng đều". Khác với Arítote chỉ nói tới tốc độ chung chung, Galilée chú ý tới tốc độ tức thời, đặc biệt tới sự thay đổi cường độ và chiều của tốc độ, từ đó ông đề ra khái niệm gia tốc và tìm ra quy luật của sự rơi tự do : h = 1/2 gt. Tức là cũng qua Galileo, lần đầu tiên toán học được đưa vào nghiên cứu vật lý như một công cụ thao tác. Năm 1687 Newton công bố tác phẩm "Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên", trong đó ông tiếp tục công trình của Galileo, nhưng thay vì chỉ trên mặt động học (cinématique) ông đã đi sâu vào nguyên nhân của chuyển động, tức là trên mặt động lực học (dynamiqu e). Từ nguyên lý quán tính, nay gọi là định luật Newton I, ta suy ra rằng một vật thể nếu chuyển động hoặc không thẳng hoặc không đều, nói cách khác nó không bị "bỏ mặc cho chính nó" mà bị tác động bởi một nhân tố bên ngoài. Nhân tố ấy Newton gọi là Lực. Newton cho rằng cái đặc trưng cho mỗi vật thể vật chất là khuynh hướng chống lại mọi biến thiên tốc độ của nó, mà ông gọi là Quán Tính và định lượng hoá nó trong khái niệm Khối Lượng Quán Tính. Từ đó đề ra định luật Newton II hay định luật cơ bản của động lực học: F. (t = (v. m Dạng quen thuộc là F = m. ( (trong đó F là lực tác động, m là khối lượng của vật chịu tác động ấy và ( là gia tốc của chuyển động của vật dưới tác động ấy). Với Newton, không gian và thời gian được xem là những thực thể vật lý tuyệt đối, riêng rẽ: Không gian có cấu trúc đồng chất và đẳng hướng, nó có trước vật thể và chứa vật thể; thời gian là tuyến tính và bất thuận nghịch. Khái niệm "lực" của Newton đã từng bị D' Alembert phê phán là siêu hình và chính Newton cũng cảm thấy tính khiên cưỡng của nó khi ông buộc phải xem sự truyền dẫn lực có tính tức thời, không qua một môi trường trung gian nào. Ngoài ra, có những lực "hiện thực" nhưng lại không có một nguồn gốc hiện thực nào, và đặc biệt nó không gây ra hiệu ứng tất yếu và đặc trưng là gia tốc nơi vật thể chịu tác dụng của lực, tỷ như lực quán tính mà ông gọi là lực ínsita , theo ông "nằm ngay trong lòng vật chất, qua nó mọi hữu thể vật chất duy trì trạng thái đứng yên hay chuyển động thẳng đều"; hoặc lực ly tâm sảy ra nơi vật thể chuyển động tròn. Sau này những lực ấy được gọi là những lực ảo (forces virtuelles, fictives, phantômatiques). Để nghiên cứu chuyển động, cụ thể tốc độ và gia tốc của nó, với hiệu năng chính xác, Newton, độc lập với Leibnitz đã phát minh ra các phép toán vi phân và tích phân. Đồng thời đề xuất phương pháp luận phân tích hay địa phương hay vi phân (analytique, local, differentiel), theo đó muốn nghiên cứu chuyển động hay hiện tượng tự nhiên bất kỳ nào, ta hãy xem xét nó trong phạm vi rất hẹp về không gian và thời gian. Sau đó dùng phép "cộng" tích phân để "ngoại suy" tính biến thiên hay quy luật của nó trong phạm vi rộng bất kỳ. Newton cũng khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn khi nghiên cứu chuyển động của thiên thể trên mặt động lực học: Các vật thể vật chất bao giờ cũng hút nhau theo lực hấp dẫn tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách và tỷ lệ thuận với cái đặc trưng cho vật thể mà ông gọi là Khối lượng hấp dẫn. Nền khoa học "cổ điển" Phương Tây từ Galileo, Newton đến cuối thế kỷ 19 đã thành công chói lọi. Điển hình là việc phát hiện ra hành tinh Neptune của Le Verrier và Smith chỉ thuần dựa vào tính toán theo những quy luật mà hai nhà sáng lập đã đặt nền móng, trước khi các ống kính thiên văn tìm ra nó ở đúng vị trí và có khối lượng như đã thông báo. Khoa học từ đó và cả đến nay được gần như nhất trí tôn vinh làm luồng sáng vạn năng, chọc thủng mọi màn đêm của Vô Minh như nhận định của nhà bác học Heimhold: "Cuối cùng chúng ta đã khám phá ra rằng nhiệm vụ của vật lý học là đưa các hiện tượng tự nhiên về những lực hút và đẩy có cường đọ phụ thuộc vào khoảng cách. Phương pháp giải quyết này là điều kiện để hiểu thiên nhiên một cách đầy đủ". Không chỉ hiểu mà còn tiến lên "làm chủ thiên nhiên"- maitre de la Nature - như Descarte đã hoạch định như kết quả của "Phương Pháp Luận" khoa học. Đến nay niềm tin và phong cách tư duy ấy vẫn ngự trị trong nếp nghĩ ngay nơi đại đa số các nhà khoa học.
Tóm lại khoa học cổ điển Phương
Tây đã thành công chính là vì (?) dựa vào những "yếu tính" sau đây
của Tự nhiên.
1- Quan niệm toàn thể vũ trụ là những vật thể, những cố thể (corps solides), những hạt (particules) rắn chắc, có dung tích nhất định, tương tác với nhau bằng cách hút hay đẩy nhau. Tất thảy đều là và chỉ là vật chất, kể cả tư duy, tình cảm của con người. Thí dụ tình yêu, tính dịu dàng được quy về các hormones, những đại phân tử sinh học; Hoặc di truyền có cấu thể và cơ chế vận hành qua các gènes trong nhiễm sắc thể, nghĩa là các bazes chứa nitơ, các acides phosphoriques, các đường dezoxyriboza sắp xếp theo những cách khác nhau trên thang xoắn ADN (acide désoxyribonucléique); Hoặc tư duy, thiền định được quy về trạng thái của não qua hiện tượng bức xạ những sóng não này khác; v..v..
Vật chất được định lượng hoá, tức là khách quan hoá qua khái niệm Khối Lượng mà tương ứng với mỗi vật thể là một trị số cố định không phụ thuộc vào thời-xứ mà vật thể được thấy.
2- Các hiện tượng xảy ra do quan sát được trong thiên nhiên hay trong phòng thí nghiệm đều độc lập với người quan sát, dù người đó là ai, ở nơi nào, hiện tượng xảy ra lúc nào. Nếu thực nghiệm hay quan sát tiến hành theo đúng quy trình thì bao giờ cũng đem lại kết quả giống nhau. Đó là tính Khách Quan của thực nghiệm, của nhận thức khoa học. Nó trở thành tiêu chuẩn cho mọi việc truy tìm chân lý, cho mọi phán đoán, trở thành một "danh xưng" mà ai cũng muốn nhờ cậy để được "đẹp mặt". Và qua nó khoa học trở thành một quyền uy phán xét mà mọi người đều phải tuân thủ.
Tính độc lập này còn được biết dưới khái niệm Đối Xưng (symetrie) được hiểu theo nghĩa tính Lặp Lại, tính Tương ứng (régularité, correspondance) giữa các hiện hữu khác nhau.
3- Không gian và thời gian được mặc nhiên quy định là những thực thể "khách quan", chúng có đấy không phụ thuộc gì vào con người hiện hữu hay không hiện hữu, chúng có đấy, riêng biệt nhau và độc lập với nhau. Không gian vô tận, đẳng hướng, đồng chất cả trên mặt vĩ mô lẫn vi mô. Thời gian vô thuỷ vô chung, vô cùng về cả hai hướng bất thuận nghịch là quá khứ và tương lai, và tuyến tính theo nghĩa trôi chảy đều đều (?)và mãi mãi đều đều (?).
Không gian và thời gian tham gia vào, đúng hơn quy định cho Đối Xứng là cái luôn luôn lộ diện dưới hai bộ mặt: Nó liên hợp với một phương diện Bất Biến (invariance) nào đó của tương tác giữa hai cố thể, hai hạt trong mọi chuyển đổi hình học hoặc đại số, thí dụ dù ở đâu, lúc nào thì một vật thể cũng chỉ rời chỗ hoặc theo quán tính, hoặc bị tác động bởi một lực, sự rời chỗ được định lượng hoá bằng hàm số bậc nhất theo thời gian trong trường hợp đầu, hàm số bậc hai theo thời gian trong trường hợp sau; và với phương diện Bảo Toàn, nghĩa là ở đâu, lúc nào cũng hàm dung Luật Bảo Toàn của mọi hiện hữu vật lý, thí dụ Luật Bảo Toàn Khối Lượng.
4- Những điều mà khoa học khẳng định qua những quy luật dưới dạng định lượng hoá là công thức, hay hình thức hoá toán học đều có tính Tất Yếu (déterministe): Có điều kiện này hay những điều kiện này thì đương nhiên phải nối tiếp bằng những hiện tượng kia, không chạy đi đâu được, không khác thế được. Tinh thần quyết đoán như dao chém thớt này càng củng cố cho nếp suy nghĩ nhị nguyên vốn thường có nơi con người. Tính tất yếu hay Quyết Định Luận Khoa Học này, thay thế cho Số Phận hay Định Mệnh một cách "khoa học", tức là không ai dám phản đối. Và rồi nó "truyền nhiễm" sang các môn học thuật được gọi là khoa học nhân văn và đưa đến niềm xác tín vào lý tưởng như nguồn gốc của nhiều xung đột trong thế kỷ "khoa học" 20.
Quyết định luận khoa học là một cách khẳng định khác của Nguyên Lý Nhân Quả đã là, đang là và vẫn là lý do tồn tại của khoa học, cũng như là nền móng cho cách suy nghĩ và hành sử của mỗi người chúng ta trong sinh hoạt thường nhật hay trong nghiên cứu học thuật.
Nhìn chung cho đến nay, đừng nói đến "người ngoại đạo", ngay đại đa số các nhà khoa học vẫn hiểu "khoa học"là cái đảm bảo bốn tiêu chí đó, mặc dù ngay từ thời Newton đã xuất hiện những tồn nghi như:
1- Toàn bộ nền khoa học Newton hay cổ điển (những lý thuyết, những định luật, những thực nghiệm của nó) chỉ đúng khi nằm trong hệ quy chiếu quán tính. Hệ này có tồn tại thật không? "Thật" theo hai nghiã trực quan và lý luận. Trong những hệ phi quán tính (như Trái Đất, và rất rất nhiều các hệ khác mà chúng ta thực tế biết đến và sống trong chúng), khoa học cổ điển lúc ấy có ý nghĩa gì? tác dụng gì?
2- Khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn là hai hay chỉ là một "thực thể"? Các khối lượng, (với tinh thần khoa học, hiểu ngầm là cổ điển, trong vũ trụ chỉ có khối lượng chứ không có "tâm", "linh hồn" hay "tinh thần" gì hết) tương tác với nhau thông qua "lực", bản thể của lực là gì? Nó được truyên dẫn trong môi trường nào, được truyền dẫn tức thời hay vẫn cần một thời lượng nhất định?
3- Thời gian và không gian có đúng là hai thực thể (theo nghĩa "có thật" và không tuỳ thuộc vào sự hiện hữu của con người, con người tồn tại hay tiêu vong thì thời gian, không gian vẫn đấy) riêng biệt và độc lập không? Hay đó chỉ là hai mặt của một"thực thể" duy nhất?
4- Tính tất yếu hay tính quyết định luận khoa học và tính khách quan có đúng không? Nó có tương dung với mọi hiện thực mà chúng ta sống trong "thực tiễn" làm người của mình không?
Chúng ta hãy xem xét các nhà bác học sau Newton, nhất là Einstein với Thuyết Tương Đối và những người khổng lồ của Cơ Học Lượng Tử giải toả những tồn nghi đó như thế nào.
1- Quan niệm toàn thể vũ trụ là những vật thể, những cố thể (corps solides), những hạt (particules) rắn chắc, có dung tích nhất định, tương tác với nhau bằng cách hút hay đẩy nhau. Tất thảy đều là và chỉ là vật chất, kể cả tư duy, tình cảm của con người. Thí dụ tình yêu, tính dịu dàng được quy về các hormones, những đại phân tử sinh học; Hoặc di truyền có cấu thể và cơ chế vận hành qua các gènes trong nhiễm sắc thể, nghĩa là các bazes chứa nitơ, các acides phosphoriques, các đường dezoxyriboza sắp xếp theo những cách khác nhau trên thang xoắn ADN (acide désoxyribonucléique); Hoặc tư duy, thiền định được quy về trạng thái của não qua hiện tượng bức xạ những sóng não này khác; v..v..
Vật chất được định lượng hoá, tức là khách quan hoá qua khái niệm Khối Lượng mà tương ứng với mỗi vật thể là một trị số cố định không phụ thuộc vào thời-xứ mà vật thể được thấy.
2- Các hiện tượng xảy ra do quan sát được trong thiên nhiên hay trong phòng thí nghiệm đều độc lập với người quan sát, dù người đó là ai, ở nơi nào, hiện tượng xảy ra lúc nào. Nếu thực nghiệm hay quan sát tiến hành theo đúng quy trình thì bao giờ cũng đem lại kết quả giống nhau. Đó là tính Khách Quan của thực nghiệm, của nhận thức khoa học. Nó trở thành tiêu chuẩn cho mọi việc truy tìm chân lý, cho mọi phán đoán, trở thành một "danh xưng" mà ai cũng muốn nhờ cậy để được "đẹp mặt". Và qua nó khoa học trở thành một quyền uy phán xét mà mọi người đều phải tuân thủ.
Tính độc lập này còn được biết dưới khái niệm Đối Xưng (symetrie) được hiểu theo nghĩa tính Lặp Lại, tính Tương ứng (régularité, correspondance) giữa các hiện hữu khác nhau.
3- Không gian và thời gian được mặc nhiên quy định là những thực thể "khách quan", chúng có đấy không phụ thuộc gì vào con người hiện hữu hay không hiện hữu, chúng có đấy, riêng biệt nhau và độc lập với nhau. Không gian vô tận, đẳng hướng, đồng chất cả trên mặt vĩ mô lẫn vi mô. Thời gian vô thuỷ vô chung, vô cùng về cả hai hướng bất thuận nghịch là quá khứ và tương lai, và tuyến tính theo nghĩa trôi chảy đều đều (?)và mãi mãi đều đều (?).
Không gian và thời gian tham gia vào, đúng hơn quy định cho Đối Xứng là cái luôn luôn lộ diện dưới hai bộ mặt: Nó liên hợp với một phương diện Bất Biến (invariance) nào đó của tương tác giữa hai cố thể, hai hạt trong mọi chuyển đổi hình học hoặc đại số, thí dụ dù ở đâu, lúc nào thì một vật thể cũng chỉ rời chỗ hoặc theo quán tính, hoặc bị tác động bởi một lực, sự rời chỗ được định lượng hoá bằng hàm số bậc nhất theo thời gian trong trường hợp đầu, hàm số bậc hai theo thời gian trong trường hợp sau; và với phương diện Bảo Toàn, nghĩa là ở đâu, lúc nào cũng hàm dung Luật Bảo Toàn của mọi hiện hữu vật lý, thí dụ Luật Bảo Toàn Khối Lượng.
4- Những điều mà khoa học khẳng định qua những quy luật dưới dạng định lượng hoá là công thức, hay hình thức hoá toán học đều có tính Tất Yếu (déterministe): Có điều kiện này hay những điều kiện này thì đương nhiên phải nối tiếp bằng những hiện tượng kia, không chạy đi đâu được, không khác thế được. Tinh thần quyết đoán như dao chém thớt này càng củng cố cho nếp suy nghĩ nhị nguyên vốn thường có nơi con người. Tính tất yếu hay Quyết Định Luận Khoa Học này, thay thế cho Số Phận hay Định Mệnh một cách "khoa học", tức là không ai dám phản đối. Và rồi nó "truyền nhiễm" sang các môn học thuật được gọi là khoa học nhân văn và đưa đến niềm xác tín vào lý tưởng như nguồn gốc của nhiều xung đột trong thế kỷ "khoa học" 20.
Quyết định luận khoa học là một cách khẳng định khác của Nguyên Lý Nhân Quả đã là, đang là và vẫn là lý do tồn tại của khoa học, cũng như là nền móng cho cách suy nghĩ và hành sử của mỗi người chúng ta trong sinh hoạt thường nhật hay trong nghiên cứu học thuật.
Nhìn chung cho đến nay, đừng nói đến "người ngoại đạo", ngay đại đa số các nhà khoa học vẫn hiểu "khoa học"là cái đảm bảo bốn tiêu chí đó, mặc dù ngay từ thời Newton đã xuất hiện những tồn nghi như:
1- Toàn bộ nền khoa học Newton hay cổ điển (những lý thuyết, những định luật, những thực nghiệm của nó) chỉ đúng khi nằm trong hệ quy chiếu quán tính. Hệ này có tồn tại thật không? "Thật" theo hai nghiã trực quan và lý luận. Trong những hệ phi quán tính (như Trái Đất, và rất rất nhiều các hệ khác mà chúng ta thực tế biết đến và sống trong chúng), khoa học cổ điển lúc ấy có ý nghĩa gì? tác dụng gì?
2- Khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn là hai hay chỉ là một "thực thể"? Các khối lượng, (với tinh thần khoa học, hiểu ngầm là cổ điển, trong vũ trụ chỉ có khối lượng chứ không có "tâm", "linh hồn" hay "tinh thần" gì hết) tương tác với nhau thông qua "lực", bản thể của lực là gì? Nó được truyên dẫn trong môi trường nào, được truyền dẫn tức thời hay vẫn cần một thời lượng nhất định?
3- Thời gian và không gian có đúng là hai thực thể (theo nghĩa "có thật" và không tuỳ thuộc vào sự hiện hữu của con người, con người tồn tại hay tiêu vong thì thời gian, không gian vẫn đấy) riêng biệt và độc lập không? Hay đó chỉ là hai mặt của một"thực thể" duy nhất?
4- Tính tất yếu hay tính quyết định luận khoa học và tính khách quan có đúng không? Nó có tương dung với mọi hiện thực mà chúng ta sống trong "thực tiễn" làm người của mình không?
Chúng ta hãy xem xét các nhà bác học sau Newton, nhất là Einstein với Thuyết Tương Đối và những người khổng lồ của Cơ Học Lượng Tử giải toả những tồn nghi đó như thế nào.
1- Hệ Quán Tính
Hệ quán tính là gì? Đó là hệ
chuyển động thẳng đều. Bất cứ hiện tượng nào xảy ra trong một hệ quy chiếu nào
cũng diễn biến y hệt trong hệ quy chiếu khác chuyển động thẳng đều so với hệ
quy chiếu trên. Thí dụ: Ngồi trong một gian buồng, ta thả một hòn bi, nó sẽ rơi
theo đường thẳng đứng xuống nền nhà. Khi ngồi trong một toa xe đang chạy với
tốc độ thẳng đều, nếu ta thả hòn bi thì nó cũng rơi theo đường thẳng đứng xuống
sàn xe. Dĩ nhiên đường thẳng đứng với sàn xe đang chạy thì không còn là đường
thẳng đứng với sàn đất bên ngoài.
Chuyển động thẳng đều gồm hai yếu tố: Thẳng và Đều. Thẳng là gì? Chưa bao giờ "thẳng" có được một định nghĩa đáng gọi là một định nghĩa, người ta đành bằng lòng với một hình ảnh trực quan rất thô kệch, thí dụ một sợi dây căng "thẳng" chẳng hạn. Hoặc “chặt chẽ” hơn, đường biểu diễn một hàm số bậc nhất. Hoặc có vẻ "khách quan" hơn, quỹ đạo của một tia sáng, nhưng rồi chính ánh sáng lại được chứng minh qua xét nghiệm rằng nó cũng chẳng "thẳng" gì, nó bị uốn cong bởi vật chất, mà vật chất thì ở đâu chẳng có! Đến lượt nó, "Đều" cũng chẳng "khoa học" và "khách quan" gì hơn nhiều lắm: Người ta "tin" rằng chu kỳ của con lắc hoặc của một bức xạ nào đó là đều. Vì "tin" không được "khoa học" lắm nên người ta cố và đã chứng minh rằng "đều" là do luật bảo toàn năng lượng. Thế còn luật bảo toàn này? Đó là do không gian đẳng hướng. Thế không gian đẳng hướng? Đó là do… Và câu truyện dân gian "ông Lảng, ông Lang; ông Đỉnh, ông Đinh…" được khoa học kể lại và mọi người lắng nghe đầy thán phục, trong khi câu truyện của Einstein lại ít được nhắc đến.
Einstein phát biểu về hệ quy chiếu quán tính như sau:
"Đó là hệ toạ độ, trong đó các định luật cơ học được nghiệm đúng, tức là một vật không chịu tác động của ngoại lực thì nó chuyển động thẳng đều"
- Thế nào là không chịu tác động của ngoại lực? - "Đó chỉ đơn thuần là chuyển động trong hệ quán tính!
Cuối cùng nhà bác học siêu vĩ đại này đành phải cám cảnh thốt lên "Hệ quán tính ư? Đơn thuần đó là Một Điều Bịa Đặt có ích, và bây giờ Tôi không có một khái niệm gì về nó cả".
Thế đấy … Và khoa học … Và khoa học đã chứng minh …
Chuyển động thẳng đều gồm hai yếu tố: Thẳng và Đều. Thẳng là gì? Chưa bao giờ "thẳng" có được một định nghĩa đáng gọi là một định nghĩa, người ta đành bằng lòng với một hình ảnh trực quan rất thô kệch, thí dụ một sợi dây căng "thẳng" chẳng hạn. Hoặc “chặt chẽ” hơn, đường biểu diễn một hàm số bậc nhất. Hoặc có vẻ "khách quan" hơn, quỹ đạo của một tia sáng, nhưng rồi chính ánh sáng lại được chứng minh qua xét nghiệm rằng nó cũng chẳng "thẳng" gì, nó bị uốn cong bởi vật chất, mà vật chất thì ở đâu chẳng có! Đến lượt nó, "Đều" cũng chẳng "khoa học" và "khách quan" gì hơn nhiều lắm: Người ta "tin" rằng chu kỳ của con lắc hoặc của một bức xạ nào đó là đều. Vì "tin" không được "khoa học" lắm nên người ta cố và đã chứng minh rằng "đều" là do luật bảo toàn năng lượng. Thế còn luật bảo toàn này? Đó là do không gian đẳng hướng. Thế không gian đẳng hướng? Đó là do… Và câu truyện dân gian "ông Lảng, ông Lang; ông Đỉnh, ông Đinh…" được khoa học kể lại và mọi người lắng nghe đầy thán phục, trong khi câu truyện của Einstein lại ít được nhắc đến.
Einstein phát biểu về hệ quy chiếu quán tính như sau:
"Đó là hệ toạ độ, trong đó các định luật cơ học được nghiệm đúng, tức là một vật không chịu tác động của ngoại lực thì nó chuyển động thẳng đều"
- Thế nào là không chịu tác động của ngoại lực? - "Đó chỉ đơn thuần là chuyển động trong hệ quán tính!
Cuối cùng nhà bác học siêu vĩ đại này đành phải cám cảnh thốt lên "Hệ quán tính ư? Đơn thuần đó là Một Điều Bịa Đặt có ích, và bây giờ Tôi không có một khái niệm gì về nó cả".
Thế đấy … Và khoa học … Và khoa học đã chứng minh …
2 - Khối lượng. Một lần Einstein đang cạo râu, chợt một tia chớp loé lên trong óc: "Thôi đúng rồi, khối lượng quán tính hay khối lượng hấp dẫn …" " Làm gì có, đấy chẳng qua chỉ là cái tên mà mỗi người đặt cho một hiện tượng nào đó xảy ra trong hệ quy chiêú của người ây và theo cách nhìn, theo quan điểm của người ấy. Chẳng có quan điểm của ai khách quan hơn, "chân lý" hơn của ai cả". Einstein đã minh hoạ lập luận này bằng cái mà E. Mach gọi là "thí nghiệm tưởng tượng" (Gedankenexperiment) trong thuyêt Tưong Đối Rộng mà đáng ra, theo như bản thân ông nói, phải gọi là Thuyết Quan Điểm (Standpunktslehre) mới đúng. Không chỉ thế, như dưới đây sẽ nói rõ thêm,"khối lượng"còn mất cả "ngoại hình"trong "trường" và "sóng", lẫn "linh hồn" trong cái bàng bạc trời đất là "năng lượng".
3 - Không gian và Thời gian.
Năm 1905, Einstein công bố Lý Thuyết Tương Đối Hẹp qua một số bài báo sau này trở thành một cột mốc đánh dấu một khúc ngoặt chưa từng có trong nhận thức của con người và rồi cùng Thuyết Tương Đối Rộng sau đó 10 năm ông đã được tặng danh hiệu Người Xây Dựng Vũ Trụ (faiseur du monde).
Dựa vào thực nghiệm khoa học về tốc độ ánh sáng, vào công thức của Lorentzveef sự rút ngắn của vật thể khi nó chuyển động, …Thuyết Tương Đối Hẹp, tuy vẫn thừa nhận ý nghĩa của hệ quán tính trong một số hiện tượng vật lý, nhưng lại không coi Không gian và Thời gian là những thực thể riêng rẽ, độc lập và tuyệt đối: Không thể nói đến không gian mà không có thời gian và ngược lại. Chúng liên hệ chặt chẽ với nhau như hai mặt của một thực thể duy nhất gọi là Continum Thời-Không bốn chiều. Thời gian không còn tuyến tính, mà cũng không còn tuyệt đối theo nghĩa đối với hệ quy chiếu nào cũng vậy, thời gian giữa hai biến cố vật lý, dài hay ngắn, trước hay sau, tuỳ theo ta quan sát chúng trong hệ quy chiếu nào. Cùng với không gian, nó co dãn, đàn hồi và có thể chuyển hoá cho nhau, nghĩa là thời gian có thể biến thành không gian và ngược lại. “Chuyển Hoá” diễn ra đối với từng loại người quan sát: “Thay vào ý niệm về hệ thống toạ độ không gian-thời gian có ý nghĩa khách quan như một thực thể vật lý riêng biệt, thuyết tương đối hàm ý rằng những toạ độ không gian và thời gian chỉ là yếu tố của ngôn ngữ mà người quan sát dùng để mô tả môi trường của mình” - Mendel Sachs.
Cái "Vấn đề chỉ là Quan Điểm" còn in dấu đậm trên Thuyết Tương Đối Rộng xem xét hiện tượng vạn vật hấp dẫn: Câu hỏi về khối lượng hấp dẫn và khối lượng quán tính là hai hay là một đã được Einstein giải quyết rất đơn giản: Tuỳ theo người quan sát hiện tượng chuyển động "tin" vào hấp dẫn hay quán tính thì khối lượng sẽ là thế! Đây chỉ là cái tên gọi của từng người tuỳ theo "quan điểm" của họ, mà không thể nói ai đúng hơn ai, ai khách quan hơn ai.
Chúng ta có thể hiểu thêm ý nghĩa của chủ quan tính trong khoa học hiện đại qua công thức Lorentz, người mà Einstein cho là đã làm quá nửa công việc của mình. Nếu một vật thể co ngắn lại khi chuyển động thì chiều dài thực sự, nghĩa là khách quan của nó là bao nhiêu? Một câu hỏi Vô Nghĩa, hệt như khi ta hỏi cái bóng của ta được hắt lên sàn nhà thực sự, khách quan dài bao nhiêu.
Năm 1905, Einstein công bố Lý Thuyết Tương Đối Hẹp qua một số bài báo sau này trở thành một cột mốc đánh dấu một khúc ngoặt chưa từng có trong nhận thức của con người và rồi cùng Thuyết Tương Đối Rộng sau đó 10 năm ông đã được tặng danh hiệu Người Xây Dựng Vũ Trụ (faiseur du monde).
Dựa vào thực nghiệm khoa học về tốc độ ánh sáng, vào công thức của Lorentzveef sự rút ngắn của vật thể khi nó chuyển động, …Thuyết Tương Đối Hẹp, tuy vẫn thừa nhận ý nghĩa của hệ quán tính trong một số hiện tượng vật lý, nhưng lại không coi Không gian và Thời gian là những thực thể riêng rẽ, độc lập và tuyệt đối: Không thể nói đến không gian mà không có thời gian và ngược lại. Chúng liên hệ chặt chẽ với nhau như hai mặt của một thực thể duy nhất gọi là Continum Thời-Không bốn chiều. Thời gian không còn tuyến tính, mà cũng không còn tuyệt đối theo nghĩa đối với hệ quy chiếu nào cũng vậy, thời gian giữa hai biến cố vật lý, dài hay ngắn, trước hay sau, tuỳ theo ta quan sát chúng trong hệ quy chiếu nào. Cùng với không gian, nó co dãn, đàn hồi và có thể chuyển hoá cho nhau, nghĩa là thời gian có thể biến thành không gian và ngược lại. “Chuyển Hoá” diễn ra đối với từng loại người quan sát: “Thay vào ý niệm về hệ thống toạ độ không gian-thời gian có ý nghĩa khách quan như một thực thể vật lý riêng biệt, thuyết tương đối hàm ý rằng những toạ độ không gian và thời gian chỉ là yếu tố của ngôn ngữ mà người quan sát dùng để mô tả môi trường của mình” - Mendel Sachs.
Cái "Vấn đề chỉ là Quan Điểm" còn in dấu đậm trên Thuyết Tương Đối Rộng xem xét hiện tượng vạn vật hấp dẫn: Câu hỏi về khối lượng hấp dẫn và khối lượng quán tính là hai hay là một đã được Einstein giải quyết rất đơn giản: Tuỳ theo người quan sát hiện tượng chuyển động "tin" vào hấp dẫn hay quán tính thì khối lượng sẽ là thế! Đây chỉ là cái tên gọi của từng người tuỳ theo "quan điểm" của họ, mà không thể nói ai đúng hơn ai, ai khách quan hơn ai.
Chúng ta có thể hiểu thêm ý nghĩa của chủ quan tính trong khoa học hiện đại qua công thức Lorentz, người mà Einstein cho là đã làm quá nửa công việc của mình. Nếu một vật thể co ngắn lại khi chuyển động thì chiều dài thực sự, nghĩa là khách quan của nó là bao nhiêu? Một câu hỏi Vô Nghĩa, hệt như khi ta hỏi cái bóng của ta được hắt lên sàn nhà thực sự, khách quan dài bao nhiêu.
4 - Tất Yếu và Ngẫu Nhiên.
Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường và phải ứng xử theo lý tất yếu, chứ không thể hoàn toàn đặt để mọi hành vi, toan tính vào cái hú hoạ. Khoa học lại càng như vậy: Không làm gì còn khoa học nữa nếu Nguyên Lý Nhân Quả mất chỗ đứng, mất ngai vàng thống trị vẫn được nhất trí công nhận xưa nay. Nguyên lý ấy không chỉ là "linh hồn" của mọi quy luật mà khoa học phát hiện mà còn mặc nhiên khẳng định tính khách quan của đối tượng thí nghiệm đối với người làm thí nghiệm. Sự Thật đanh thép này đã trở thành quá tự nhiên "từ vô thỉ" đến nỗi ngay cả những nhà đại bác học đã tạo ra những bước ngoặt lớn trên con đường tiến hoá của khoa học như Einstein, Schoroedinger, Louis de Broglie, … không sao nuốt được tinh thần "Tù Mù" mà các nhà Cơ Học Lượng Tử đem trùm lên khoa học.
Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường và phải ứng xử theo lý tất yếu, chứ không thể hoàn toàn đặt để mọi hành vi, toan tính vào cái hú hoạ. Khoa học lại càng như vậy: Không làm gì còn khoa học nữa nếu Nguyên Lý Nhân Quả mất chỗ đứng, mất ngai vàng thống trị vẫn được nhất trí công nhận xưa nay. Nguyên lý ấy không chỉ là "linh hồn" của mọi quy luật mà khoa học phát hiện mà còn mặc nhiên khẳng định tính khách quan của đối tượng thí nghiệm đối với người làm thí nghiệm. Sự Thật đanh thép này đã trở thành quá tự nhiên "từ vô thỉ" đến nỗi ngay cả những nhà đại bác học đã tạo ra những bước ngoặt lớn trên con đường tiến hoá của khoa học như Einstein, Schoroedinger, Louis de Broglie, … không sao nuốt được tinh thần "Tù Mù" mà các nhà Cơ Học Lượng Tử đem trùm lên khoa học.
Chúng ta thử điểm lại vài ba vấn
đề đã dẫn đến sự thoái vị của Nguyên Lý Nhân Quả trên mặt "hiến
pháp", tức là lý thuyết.
Trước hết minh định một số khái niệm.
- Trường. Khái niệm này được manh nha từ Faraday khi nghiên cứu hiện tượng điện từ: ông dùng tay đung đưa một cuộn dây đồng trước một cục nam châm thì ông thấy trong cuộn dây có một dòng điện chạy. Vì dòng điện này có thể làm quay một động cơ, làm sáng một bóng đèn, …nên phải kết luận là trong dây đã có một lực nào đó. Lực này không do tương tác trực tiếp giữa hai cố thể là cuộn dây và cục nam châm mà chỉ do chuyển động tương đối giữa chúng với nhau sinh ra.
Maxwell tìm cách giải quyết vấn đề cái gì dẫn truyền lực đó. Lúc đầu do còn thói quen tư duy kiểu cơ chế cố thể, ông đã hình dung cả loạt những then chuyền, bánh khía, pi-nhông, …tưởng tượng, giữa hai điện tích, nhưng chẳng đi đến đâu cả, sau cùng ông “bịa” ra một “thực thể” vật lý mới mà ông đặt tên là Trường. Vậy “trường” có thể hiểu là khoảng không gian “bị nhiễu loạn” (vì không còn thuần khiết hay trung tính như trước), theo nghĩa trong đó hiện hữu một hiệu ứng nào đó sinh ra bởi một vật thể nào đó và thể hiện trên một vật thể “dễ đồng cảm” khác nằm trong khoảng không gian đó. Thí dụ giữa hai điện tích cùng dấu hoặc khác dấu có một “trường điện”dẫn truyền lực hút hoặc lực đẩy giữa chúng.
Trường trở thành một thực thể vật lý làm phong phú cho, hoặc có thể nói đã đưa khoa học cổ điển vào những địa hạt chưa từng có trước đó. Vì trường là một dung môi, một không gian tác động lên một vật thể nhất định theo nghĩa có thể cảm ứng thế nào đấy với một vật thể khác đã sinh ra trường ấy; mà tác động tức là lực, lực lại sinh công, công là cách gọi cụ thể trong một tình huống cụ thể của năng lượng, nên trường là kho chứa năng lượng hình thành bởi một vật thể nào đó.
Nhưng rồi các nhà bác học sau Maxwell không còn bằng lòng với tính cách “ăn theo” của trường đối với vật thể: Không phải vật thể tạo ra trường như sản phẩm của nó mà chính vật thể chỉ là dạng cô đọng, dạng thô cho con mắt thịt của thế nhân nhìn thấy, nói cách khác, trường mới là thực thể cơ bản, vật thể chỉ là dẫn xuất, thậm chí theo Einstein, tất cả đều quy về trường: “Trong loại vật lý học mới này, không có chỗ đứng cho cả hai (trường và vật chất) bởi vì chỉ có trường là Thực Tại Duy Nhất“, do đó không có hòn đá rơi mà chỉ có trọng trường ở nơi có mật độ cao của trọng trường Trái Đất di chuyển trong lòng nó.
Vật thể không chỉ xuống cấp so với trường mà còn bị “khinh bỉ” xem là “một cái biếu năng lượng chẳng có ranh giới gì rõ rệt với phần còn lại của trường” (H. Weil), hoặc “sự nhiễu loạn của trường đang hoàn hảo tại chỗ đó, hầu như có thể gọi là một sự ngẫu nhiên, một sự vụng về bất cẩn” (W. Thurring).
Sóng. Trong cơ học Galileo và Newton, chuyển động chỉ là chuyển động của vật thể mắt nhìn thấy được, chuyển động của cái vô hình, của một động tử phiếm định, vô tướng, không có tư cách của một vật thể mà của một hiệu ứng, là điều không thể quan niệm. Với sự xuất hiện của trường với tư cách là môi giới truyền lực, nghĩa là ở đây có sự chuyển động của lực, cái vô hình, vô tướng, một hình thái chuyển động mới ra đời, đó là Sóng, là một cái gì đó phiếm hình, lan truyền tới đâu thì ở đó có hiệu ứng của nó biến thiên theo một hoặc tổng của nhiều hàm số sin và, trong trường hợp trường điện từ, lan truyền với tốc độ cố định và độc lập với mọi hệ quy chiếu. Chính tính chất rất lạ này của tốc độ ánh sáng - một dạng trường điện từ - đã khiến các nhà bác học gán cho ánh sáng một chức năng đặc thù đối với không gian và gọi nó là hằng số cấu trúc (constante structurale), do đó đối với cả thời gian và gọi nó là tác nhân chuyển hoá (facteur de conversion), chuyển hoá thời gian ra không gian và ngược lại. Cũng vì vậy, trở về với Descartes phủ định một không gian trống rỗng và tự tại, ngày nay không gian không còn được quan niệm là một cái thùng đựng trường điện từ mà chính trường điện từ tạo ra cho ta cái gọi là không gian. Sóng như sóng âm thanh, sóng nước, … cần đến một “giá đỡ” vật chất để “cưỡi lên” mà lan truyền, nhưng sóng điện từ thì lấy gì làm dung môi chuyển tải, ê-te đã được giả định nhưng vấp phải nhiều phản biện không được giải đáp và đến nay dường như vẫn chưa có một xác định nào.
Ngoài ra con người cũng thường bức xạ các sóng (, (, …liên quan tới các hoạt động tinh thần; các sóng này chưa được nghiên cứu thích đáng và có nhiều khả năng cấu trúc lại không gian và chuyển hoá lại thời gian khác với cái không gian và thời gian được cấu trúc và chuyển hoá bởi ánh sáng.
Hiện tượng giao thoa là một tính đặc trưng cho sóng, thông qua nó mà ta nhận biết được sóng: Hai sóng va đập vào nhau, nếu là hai đỉnh va đập thì đỉnh sóng tổng hợp sẽ nhô cao vọt hẳn lên, tức là biên độ gia tăng lớn (gọi là cộng hưởng); trái lại nếu một sóng nhô cao một sóng lõm xuống, chúng sẽ triệt tiêu lẫn nhau (gọi là ngược pha) và mặt nước chỗ ấy sẽ đứng yên. Khi quan sát một hiện tượng nào đó thấy có giao thoa, ta có thể kết luận là hiện tượng sóng, nếu không có giao thoa thì không phải là sóng.
Năng Lượng. Vật chất hiểu theo nghĩa cố thể tạo lập từ những “hạt rắn chắc” và tồn tại tự thân, độc lập với ý thức lần lượt bị khoa học hiện đại hoá giải như một ngộ nhận ấu trĩ.
Phần trên ta đã thấy khái niệm vật chất bị loãng đi trong khái niệm trường như thế nào, bây giờ ta sẽ thấy nó còn “tan” vào cái phiếm hình là sóng. Louis de Broglie nghiên cứu electron đã phát hiện bản chất sóng của electron vì thấy hiện tượng giao thoa. Electron với tư cách tiêu biểu của vật chất còn “xuống cấp” nhiều hơn nữa vì rất phiếm hình, rất “mung lung, bàng bạc” như được nhiều nhà bác học lớn miêu tả, tạm trích: “Một hạt cơ bản (như electron, positon, neutron, …) không phảI là thực thể tồn tại độc lập và không thể phân tách ra được. Trong bản chất nó là một chùm những mối tương tác tương quan vươn ra bên ngoài tới những vật khác” - Henry Stapp; “Nếu ta hỏi chẳng hạn, vị trí của hạt electron có ở nguyên một chõ không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi vị trí của hạt có thay đổi với thời gian không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi hạt electron có đứng yên không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi nó có chuyển động không, ta phảI nói rằng “không”.” - Oppenheimer; “Những hạt vật chất cô lập chỉ là sự trừu tượng hoá, không có thật, chỉ là cảm quan của ta đối với vật thể nào đó, đặc tính của chúng chỉ có thể xác định và quan sát được qua sự tương tác giữa cac hệ thống khác nhau mà thôi.” - Trịnh Xuân Thuận; v..v..
Sự tan biến của vật chất hữu hình vào trường không chỉ về mặt định tính mà còn cả về mặt định lượng qua công thức chuyển đối nổi tiếng của Einstein: E = mc2.
Tính tự tại của vật chất cũng tiêu vong trong các phòng thí nghiệm hạt nhân và được các nhà bác học xác định, tạm trich một vài vị: “Những vật thể không hề tồn tại trong hệ riêng biệt để rồi anh có thể đem nó ra phân tích mà nó chỉ là kết quả của một loạt các tác động lẫn nhau.” - Heisenberg; “ Sự đo lường làm biến đổi tình trạng của electron. Vũ trụ sẽ không bao giờ còn giống như trước nữa. Để mô tả điều đã xảy ra, cần xoá bỏ từ ngữ cổ lỗ “Người Quan Sát” và thay vào đó bằng từ “Người Tham Dự”.” - John Wheeler; “Sự có mặt của chúng ta thay đổi hẳn tiến trình của vở kịch. Hiện tượng khách quan đã bị biến dạng, không tài nào sửa chữa được và biển thành một hiện tượng chủ quan, và cái hiện tượng chủ quan đó tuỳ thuộc vào người quan sát và dụng cụ đo lường.” - Trịnh Xuân Thuận.
Có thể nói kết quả thí nghiệm là sản phẩm của một cặp đồng tác giả là người làm thí nghiệm và dụng cụ dùng trong thí nghiệm, điều này thường được gọi một cách hài hước là hiệu ứng Dirac (hay Pauli theo Hawking?). Nguyên do là mỗi khi nhà bác học vĩ đại này có mặt trong hoặc gần phòng thí nghiệm thì y như rằng thí nghiệm diễn biến rất lung tung, đến nỗi khi gập một thí nghiệm không suôn sẻ, mọi người lại nhìn nhau cười mà nói “Thôi đúng lại bố Dirac ở đâu đó gần đây rồi” và qủa có thế thật!
Nguyên Lý Bất Định. Tính Bất Định, từ đó như một hậu quả lôgic, cũng là tính Ngẫu Nhiên của thế giới hiện tượng được Heisenberg khám phá khi nghiên cứu thế giới vi mô, cụ thể là vị trí và tốc độ, còn gọi là mô-men, của hạt electron chẳng hạn. Giữa hai đại lượng vật lý này, ông xác định được một bất đẳng thức có ý nghĩa là đại lượng nọ càng muốn đo chính xác bao nhiêu thì đại lượng kia tất yếu phải bớt chính xác đi bấy nhiêu. Nói cách khác, bao giờ cũng có một độ “tù mù” trong việc xác định hiện tượng, vì nói cho cùng hiện tượng là gì nếu không phải chỉ là vị trí trong không gian, tốc độ di chuyển và khối lượng. Khối lượng có thoát khỏi căn bệnh tù mù của vị trí và tốc độ không?
Trước hết minh định một số khái niệm.
- Trường. Khái niệm này được manh nha từ Faraday khi nghiên cứu hiện tượng điện từ: ông dùng tay đung đưa một cuộn dây đồng trước một cục nam châm thì ông thấy trong cuộn dây có một dòng điện chạy. Vì dòng điện này có thể làm quay một động cơ, làm sáng một bóng đèn, …nên phải kết luận là trong dây đã có một lực nào đó. Lực này không do tương tác trực tiếp giữa hai cố thể là cuộn dây và cục nam châm mà chỉ do chuyển động tương đối giữa chúng với nhau sinh ra.
Maxwell tìm cách giải quyết vấn đề cái gì dẫn truyền lực đó. Lúc đầu do còn thói quen tư duy kiểu cơ chế cố thể, ông đã hình dung cả loạt những then chuyền, bánh khía, pi-nhông, …tưởng tượng, giữa hai điện tích, nhưng chẳng đi đến đâu cả, sau cùng ông “bịa” ra một “thực thể” vật lý mới mà ông đặt tên là Trường. Vậy “trường” có thể hiểu là khoảng không gian “bị nhiễu loạn” (vì không còn thuần khiết hay trung tính như trước), theo nghĩa trong đó hiện hữu một hiệu ứng nào đó sinh ra bởi một vật thể nào đó và thể hiện trên một vật thể “dễ đồng cảm” khác nằm trong khoảng không gian đó. Thí dụ giữa hai điện tích cùng dấu hoặc khác dấu có một “trường điện”dẫn truyền lực hút hoặc lực đẩy giữa chúng.
Trường trở thành một thực thể vật lý làm phong phú cho, hoặc có thể nói đã đưa khoa học cổ điển vào những địa hạt chưa từng có trước đó. Vì trường là một dung môi, một không gian tác động lên một vật thể nhất định theo nghĩa có thể cảm ứng thế nào đấy với một vật thể khác đã sinh ra trường ấy; mà tác động tức là lực, lực lại sinh công, công là cách gọi cụ thể trong một tình huống cụ thể của năng lượng, nên trường là kho chứa năng lượng hình thành bởi một vật thể nào đó.
Nhưng rồi các nhà bác học sau Maxwell không còn bằng lòng với tính cách “ăn theo” của trường đối với vật thể: Không phải vật thể tạo ra trường như sản phẩm của nó mà chính vật thể chỉ là dạng cô đọng, dạng thô cho con mắt thịt của thế nhân nhìn thấy, nói cách khác, trường mới là thực thể cơ bản, vật thể chỉ là dẫn xuất, thậm chí theo Einstein, tất cả đều quy về trường: “Trong loại vật lý học mới này, không có chỗ đứng cho cả hai (trường và vật chất) bởi vì chỉ có trường là Thực Tại Duy Nhất“, do đó không có hòn đá rơi mà chỉ có trọng trường ở nơi có mật độ cao của trọng trường Trái Đất di chuyển trong lòng nó.
Vật thể không chỉ xuống cấp so với trường mà còn bị “khinh bỉ” xem là “một cái biếu năng lượng chẳng có ranh giới gì rõ rệt với phần còn lại của trường” (H. Weil), hoặc “sự nhiễu loạn của trường đang hoàn hảo tại chỗ đó, hầu như có thể gọi là một sự ngẫu nhiên, một sự vụng về bất cẩn” (W. Thurring).
Sóng. Trong cơ học Galileo và Newton, chuyển động chỉ là chuyển động của vật thể mắt nhìn thấy được, chuyển động của cái vô hình, của một động tử phiếm định, vô tướng, không có tư cách của một vật thể mà của một hiệu ứng, là điều không thể quan niệm. Với sự xuất hiện của trường với tư cách là môi giới truyền lực, nghĩa là ở đây có sự chuyển động của lực, cái vô hình, vô tướng, một hình thái chuyển động mới ra đời, đó là Sóng, là một cái gì đó phiếm hình, lan truyền tới đâu thì ở đó có hiệu ứng của nó biến thiên theo một hoặc tổng của nhiều hàm số sin và, trong trường hợp trường điện từ, lan truyền với tốc độ cố định và độc lập với mọi hệ quy chiếu. Chính tính chất rất lạ này của tốc độ ánh sáng - một dạng trường điện từ - đã khiến các nhà bác học gán cho ánh sáng một chức năng đặc thù đối với không gian và gọi nó là hằng số cấu trúc (constante structurale), do đó đối với cả thời gian và gọi nó là tác nhân chuyển hoá (facteur de conversion), chuyển hoá thời gian ra không gian và ngược lại. Cũng vì vậy, trở về với Descartes phủ định một không gian trống rỗng và tự tại, ngày nay không gian không còn được quan niệm là một cái thùng đựng trường điện từ mà chính trường điện từ tạo ra cho ta cái gọi là không gian. Sóng như sóng âm thanh, sóng nước, … cần đến một “giá đỡ” vật chất để “cưỡi lên” mà lan truyền, nhưng sóng điện từ thì lấy gì làm dung môi chuyển tải, ê-te đã được giả định nhưng vấp phải nhiều phản biện không được giải đáp và đến nay dường như vẫn chưa có một xác định nào.
Ngoài ra con người cũng thường bức xạ các sóng (, (, …liên quan tới các hoạt động tinh thần; các sóng này chưa được nghiên cứu thích đáng và có nhiều khả năng cấu trúc lại không gian và chuyển hoá lại thời gian khác với cái không gian và thời gian được cấu trúc và chuyển hoá bởi ánh sáng.
Hiện tượng giao thoa là một tính đặc trưng cho sóng, thông qua nó mà ta nhận biết được sóng: Hai sóng va đập vào nhau, nếu là hai đỉnh va đập thì đỉnh sóng tổng hợp sẽ nhô cao vọt hẳn lên, tức là biên độ gia tăng lớn (gọi là cộng hưởng); trái lại nếu một sóng nhô cao một sóng lõm xuống, chúng sẽ triệt tiêu lẫn nhau (gọi là ngược pha) và mặt nước chỗ ấy sẽ đứng yên. Khi quan sát một hiện tượng nào đó thấy có giao thoa, ta có thể kết luận là hiện tượng sóng, nếu không có giao thoa thì không phải là sóng.
Năng Lượng. Vật chất hiểu theo nghĩa cố thể tạo lập từ những “hạt rắn chắc” và tồn tại tự thân, độc lập với ý thức lần lượt bị khoa học hiện đại hoá giải như một ngộ nhận ấu trĩ.
Phần trên ta đã thấy khái niệm vật chất bị loãng đi trong khái niệm trường như thế nào, bây giờ ta sẽ thấy nó còn “tan” vào cái phiếm hình là sóng. Louis de Broglie nghiên cứu electron đã phát hiện bản chất sóng của electron vì thấy hiện tượng giao thoa. Electron với tư cách tiêu biểu của vật chất còn “xuống cấp” nhiều hơn nữa vì rất phiếm hình, rất “mung lung, bàng bạc” như được nhiều nhà bác học lớn miêu tả, tạm trích: “Một hạt cơ bản (như electron, positon, neutron, …) không phảI là thực thể tồn tại độc lập và không thể phân tách ra được. Trong bản chất nó là một chùm những mối tương tác tương quan vươn ra bên ngoài tới những vật khác” - Henry Stapp; “Nếu ta hỏi chẳng hạn, vị trí của hạt electron có ở nguyên một chõ không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi vị trí của hạt có thay đổi với thời gian không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi hạt electron có đứng yên không, ta phảI nói rằng “không”, nếu ta hỏi nó có chuyển động không, ta phảI nói rằng “không”.” - Oppenheimer; “Những hạt vật chất cô lập chỉ là sự trừu tượng hoá, không có thật, chỉ là cảm quan của ta đối với vật thể nào đó, đặc tính của chúng chỉ có thể xác định và quan sát được qua sự tương tác giữa cac hệ thống khác nhau mà thôi.” - Trịnh Xuân Thuận; v..v..
Sự tan biến của vật chất hữu hình vào trường không chỉ về mặt định tính mà còn cả về mặt định lượng qua công thức chuyển đối nổi tiếng của Einstein: E = mc2.
Tính tự tại của vật chất cũng tiêu vong trong các phòng thí nghiệm hạt nhân và được các nhà bác học xác định, tạm trich một vài vị: “Những vật thể không hề tồn tại trong hệ riêng biệt để rồi anh có thể đem nó ra phân tích mà nó chỉ là kết quả của một loạt các tác động lẫn nhau.” - Heisenberg; “ Sự đo lường làm biến đổi tình trạng của electron. Vũ trụ sẽ không bao giờ còn giống như trước nữa. Để mô tả điều đã xảy ra, cần xoá bỏ từ ngữ cổ lỗ “Người Quan Sát” và thay vào đó bằng từ “Người Tham Dự”.” - John Wheeler; “Sự có mặt của chúng ta thay đổi hẳn tiến trình của vở kịch. Hiện tượng khách quan đã bị biến dạng, không tài nào sửa chữa được và biển thành một hiện tượng chủ quan, và cái hiện tượng chủ quan đó tuỳ thuộc vào người quan sát và dụng cụ đo lường.” - Trịnh Xuân Thuận.
Có thể nói kết quả thí nghiệm là sản phẩm của một cặp đồng tác giả là người làm thí nghiệm và dụng cụ dùng trong thí nghiệm, điều này thường được gọi một cách hài hước là hiệu ứng Dirac (hay Pauli theo Hawking?). Nguyên do là mỗi khi nhà bác học vĩ đại này có mặt trong hoặc gần phòng thí nghiệm thì y như rằng thí nghiệm diễn biến rất lung tung, đến nỗi khi gập một thí nghiệm không suôn sẻ, mọi người lại nhìn nhau cười mà nói “Thôi đúng lại bố Dirac ở đâu đó gần đây rồi” và qủa có thế thật!
Nguyên Lý Bất Định. Tính Bất Định, từ đó như một hậu quả lôgic, cũng là tính Ngẫu Nhiên của thế giới hiện tượng được Heisenberg khám phá khi nghiên cứu thế giới vi mô, cụ thể là vị trí và tốc độ, còn gọi là mô-men, của hạt electron chẳng hạn. Giữa hai đại lượng vật lý này, ông xác định được một bất đẳng thức có ý nghĩa là đại lượng nọ càng muốn đo chính xác bao nhiêu thì đại lượng kia tất yếu phải bớt chính xác đi bấy nhiêu. Nói cách khác, bao giờ cũng có một độ “tù mù” trong việc xác định hiện tượng, vì nói cho cùng hiện tượng là gì nếu không phải chỉ là vị trí trong không gian, tốc độ di chuyển và khối lượng. Khối lượng có thoát khỏi căn bệnh tù mù của vị trí và tốc độ không?
Ta đã biết khối lượng chỉ là dạng
khả kiến của cái phiếm hình là năng lượng, mà năng lượng được xác định cũng
trong tình trạng tù mù tương ứng với thời gian, nói rõ hơn, khoảng thời gian
trong đó hiện hữu một năng lượng nào đó, cái nọ càng muốn được xác định chính
xác bao nhiêu thì cái kia lại buộc phảI thiếu chính xác bấy nhiêu. Tệ hơn nữa
khoa học lại phát hiện ra một loại năng lượng mới là năng lượng ma cùng với sự
xuất hiện của những hạt ma, (particules phantômatiques) thường gọi là hạt ảo, (
particules virtuelles). Gọi là “ma” hay “ảo” vì sự xuất hiện chớp nhoáng của
chúng chẳng có một lý do nào hết, đùng một cái hiện ra, rồi lại đùng một cái
biến mất, hệt như “ma” vậy! Tuy là “ma” nhưng hạt ảo cũng có ý nghĩa tích cực,
chúng thanh toán được tính siêu hình của lực, lực giờ đây được hiểu là sự trao
đổi các hạt ảo, thí dụ lực điện từ chỉ là sự trao đổi các photon ảo, mà số các
hạt ảo này đâu có ít ỏi gì cho cam, riêng electron aỏ, trong 1 cm3 không khí đã
có đến 1030 hạt ảo trong khi cả vũ trụ chỉ có 1080 hạt thật. Về nguyên lý bất
định nhà bác học Trịnh Xuân Thuận đã viết “Mọi thứ đều khả hữu dưới sự thống
trị của nguyên lý bất định, và đối với nó mọi định luật, mọi quy luật được làm
ra chỉ để bị vi phạm.” Hơn nữa không chỉ là lý thuyết trừu tượng mà là bản thân
tồn tại, là nguồn gốc của sự ra đời của toàn bộ vũ trụ, trước hết của con người
luôn huyênh hoang không ngượng mồm về tính quy luật như Trịnh Xuân Thuận đã
viết “Cái ngẫu nhiên lượng tử ấy (còn gọi là tù mù lượng tử-le flou quantique)
đã chịu trách nhiệm về năng lượng mặt trời, đã tham gia vào sự hình thành các
phân tử ADN.”
Đấy,
giá trị của Nguyên Lý Nhân Quả là như vậy, và ta có thể tóm tắt cả năng lượng,
cả nhân quả trong câu nói của một nhà bác học Pháp “Năng lưọng tượng trưng cho
hình thái nguyên thuỷ của chất liệu phổ biến, mọi năng lượng về bản chât là Tâm
Linh”.
Và không phải chỉ như vậy. Khoa học hiện đại đã phế truất năng lượng khỏi ngai vàng thống trị vũ trụ mà tôn Thông Tin lên ngôi báu, Thông Tin với ý nghĩa bản thể luận chứ không chỉ hàm dung ý nghĩa hiệu ứng: “Tuy hiện nay chưa được tôn xưng nhiều lắm dù đã được chứng minh rõ ràng là sự chuyển hoá của năng lượng thành thông tin và ngược lại… Rất có thể Thông Tin (nhiều khi gọi là trường thông tin) sẽ thúc đẩy mạnh mẽ nền khoa học và nhiều lĩnh vực ứng dụng của nó trong thế kỷ 21” - Brenda J. Dunne và Robert G. Jahn, giám đốc phòng thí nghiệm siêu đẳng PEAR của viện Princeton, vương ươm các giải Nobel Mỹ.
Đối với khoa học cổ điển, nguyên lý bảo toàn năng lượng là vấn đề sống còn của nó và được gói ghém trong câu nói của Lavoisier mà người duy vật dùng làm câu nói cửa miệng: “Không gì được tạo thêm, không gì bị mất đi”, nhưng sự xuất hiện của năng lượng ảo đã hạn chế bán kính hiệu dụng của “lẽ sống còn” đó đến mức chỉ có ý nghĩa của thực tiễn thô thiển như Trịnh Xuân Thuận minh định: “Tự nhiên có thể tạo ra năng lượng ở chỗ mà không hề có năng lượng, tức là ta không biết nguồn gốc năng lượng ở đâu. Đó là hiện tượng tù mù năng lượng (le flou énergétique)”.
Nguyên lý bất định có vẻ còn “quyết định” sự tồn tại “vật chất” nhất của vũ trụ trong một dạng vật chất không nhìn thấy và không thể nhìn thấy về mặt nguyên tắc, đó là những hố đen mà khối lượng có lẽ chiếm đến trên 90% khối lượng vũ trụ. Cũng từ nó ra đời hố trắng như đối thể của hố đen cho thành một cặp lưỡng nghi, hố trắng sẽ đưa ta tới, theo nhà bác học Stéphan Hawking, những vũ trụ hài đồng khác hẳn vũ trụ chúng ta đang sống qua những nẻo đường gọi là lỗ run, trên đó ta có thể di chuyển “như ý túc”, tức là dù xa bao nhiêu cũng chỉ trong tích tắc là tới. Còn nữa thời gian ảo (imginary time) của Hawking và thế là quá khứ, tương lai chẳng còn ý nghĩa gì cả. Không nên hiểu đây chỉ là câu truyện viễn tưởng của các nhà bác học hơi “bị điên”: Trước Hawking, J. Wheeler đã từng lật ngược nhân-quả thành, nói nôm na là quả có trước nhân trong một “hiện thực” nào đó mà ta chưa quen nghĩ đến. Với ai đã từng “đặt chân” vào Thế Giới Hoa Nghiêm thì tất cả những nghich lý trên chỉ là “việc thường ngày”.
Và không phải chỉ như vậy. Khoa học hiện đại đã phế truất năng lượng khỏi ngai vàng thống trị vũ trụ mà tôn Thông Tin lên ngôi báu, Thông Tin với ý nghĩa bản thể luận chứ không chỉ hàm dung ý nghĩa hiệu ứng: “Tuy hiện nay chưa được tôn xưng nhiều lắm dù đã được chứng minh rõ ràng là sự chuyển hoá của năng lượng thành thông tin và ngược lại… Rất có thể Thông Tin (nhiều khi gọi là trường thông tin) sẽ thúc đẩy mạnh mẽ nền khoa học và nhiều lĩnh vực ứng dụng của nó trong thế kỷ 21” - Brenda J. Dunne và Robert G. Jahn, giám đốc phòng thí nghiệm siêu đẳng PEAR của viện Princeton, vương ươm các giải Nobel Mỹ.
Đối với khoa học cổ điển, nguyên lý bảo toàn năng lượng là vấn đề sống còn của nó và được gói ghém trong câu nói của Lavoisier mà người duy vật dùng làm câu nói cửa miệng: “Không gì được tạo thêm, không gì bị mất đi”, nhưng sự xuất hiện của năng lượng ảo đã hạn chế bán kính hiệu dụng của “lẽ sống còn” đó đến mức chỉ có ý nghĩa của thực tiễn thô thiển như Trịnh Xuân Thuận minh định: “Tự nhiên có thể tạo ra năng lượng ở chỗ mà không hề có năng lượng, tức là ta không biết nguồn gốc năng lượng ở đâu. Đó là hiện tượng tù mù năng lượng (le flou énergétique)”.
Nguyên lý bất định có vẻ còn “quyết định” sự tồn tại “vật chất” nhất của vũ trụ trong một dạng vật chất không nhìn thấy và không thể nhìn thấy về mặt nguyên tắc, đó là những hố đen mà khối lượng có lẽ chiếm đến trên 90% khối lượng vũ trụ. Cũng từ nó ra đời hố trắng như đối thể của hố đen cho thành một cặp lưỡng nghi, hố trắng sẽ đưa ta tới, theo nhà bác học Stéphan Hawking, những vũ trụ hài đồng khác hẳn vũ trụ chúng ta đang sống qua những nẻo đường gọi là lỗ run, trên đó ta có thể di chuyển “như ý túc”, tức là dù xa bao nhiêu cũng chỉ trong tích tắc là tới. Còn nữa thời gian ảo (imginary time) của Hawking và thế là quá khứ, tương lai chẳng còn ý nghĩa gì cả. Không nên hiểu đây chỉ là câu truyện viễn tưởng của các nhà bác học hơi “bị điên”: Trước Hawking, J. Wheeler đã từng lật ngược nhân-quả thành, nói nôm na là quả có trước nhân trong một “hiện thực” nào đó mà ta chưa quen nghĩ đến. Với ai đã từng “đặt chân” vào Thế Giới Hoa Nghiêm thì tất cả những nghich lý trên chỉ là “việc thường ngày”.
(phần 2)
Vài nét bổ xung cho tính chính xác khoa học từ TOÁN HOC.
Chúng ta ai cũng tin tưởng vào
tính chính xác của toán học như một kiểu mẫu bất khả kháng, có thể là vì quá
sùng bái một Aristote “Toán học là khoa học của cái Tất Yếu”. Khi Cantor tìm ra
được thuyết Tập Hợp, giới toán học hết sức vui mừng vì từ nay đã có được một
đấng Hoàng đế quy tụ được tất cả các môn hình, đại, lượng, số, … vào một đế
quốc thông nhất. Năm 1903, B. Russel nêu lên mâu thuẫn của lý thuyết tập hợp
khiến mọi người tưng hửng. Một cuộc hội nghị tập hợp các nhà toán học vĩ đại
nhất đương thời được tổ chức nhằm giải quyết vị trí của thuyết tập hợp trong
toán học. Kết quả sau một cuộc cãi nhau như mổ bò, chẳng đi đến đâu cả, khiến
nhà toán học H. Poincarré phải cám cảnh than rằng “Con người có bao giờ hiểu
được nhau đâu vì họ có bao giờ nói cùng một ngôn ngữ và vì có những ngôn ngữ
làm sao mà học cho đặng”, rồi ông cùng với những nhà sáng lập thuyết tập hợp
như Cantor, Dedekind, Freg đề nghị “Buông trôi nó đi thôi, (nó tức là thuyết
tập hợp)”. Tuy nhiên vẫn có những người say mê nó nên vẫn tiếp tục nghiên cứu,
kết quả ngày nay thuyết ấy trở thành một trong ba cột trụ của toán học hiện
đại. Những người khác tìm cách né tránh mâu thuẫn. Tựu chung có Russel với
lôgic học, Zermelo với Tiên đề luận, Brower và Heyting với Trực giác luận, D.
Hilbert với số học tiên đề hoá,… Nhưng chẳng có cái nào không phi tật nọ thì
tắc tật kia. Ơ đây ta chỉ điểm sơ qua trực giác luận để có khái niệm về tình
trạng “tuyệt vọng” của toán học với tư cách tất yếu tính thuần lý: Giả dụ có
một đống sỏi mà ta đã biết từ trước là gồm một số lẻ hòn sỏi vì ta đã đếm rồi,
nếu chia đống sỏi ấy ra làm hai đống nhỏ thì đương nhiên, theo tất yếu tính
thuần lý, ta biết trước rằng một đống có một số lẻ, một đống có một số chẵn hòn
sỏi. Nhưng theo Brower và Heiting thì không làm gì có tất yếu tính thuần lý để
mà biết trước cả; muốn biết chắc, chỉ có một cách duy nhất là chịu khó mó tay
vào mà đếm, thế thôi! Cuối cùng toán học nhận một đòn chí tử để vĩnh viễn từ
giã tính chính xác được sùng bái quá “vô lối”: Đó là Định Lý Goedel chứng minh
rằng dù dựa vào một hệ tiên đề nào thì cuối cùng diễn dịch lôgic cũng đưa đến
một mệnh đề bất khả quyết, nghĩa là chẳng có cơ sở gì nữa để khẳng định hay phủ
định nó ngoài cách ôm lấy nó như một tiên đề mới để tiếp tục, rồi lại để “bất
khả quyết” khác, và cứ thế đến thiên thu. Ngoài ra như chúng tôi đã nhận định,
cột sống của Lôgic là tam đoạn luận, tức là nguyên tắc truyền dẫn, vốn dựa vào
một quan sát rất thô thiển: Cái nhỏ nằm trong cái vừa, cái vừa nằm trong cái
lớn, Vậy cái nhỏ phải nằm trong cái lớn. Sự hồ đồ ở đây là “trong”, thế nào là
“trong”?
Chúng ta thừa hiểu rằng muốn nói giời nói biển gì chăng nữa thì khoa học vẫn duy trì nguyên vẹn sức thuyết phục của nó về Cái Thật của vũ trụ, của Tồn Tại, đặc biệt và trên hết của Con Người, đơn giản bởi vì khoa học ấy phù hợp với kinh nghiệm và nhận thức của, và nhất là phục vụ trực tiếp và hữu ích cho Con Người của tiền ngũ thức là nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt và đặc biệt được lấy làm tiêu chuẩn số Một cho “thực-hư”là Thân. Nhưng “Người” chỉ là thế thôi ư? Nhất là sau khi chúng ta đã hiểu lịch trình tiến hoá của khoa học thực chất là “tiến” từ Hạt Thật đến Hạt Ma, từ Cố Thể đến Trường, từ cái Khách Quan của sự vật ở ngoài con người đến cái Chủ Quan của con người hoà nhập vào sự vật, từ cái khắt khe của Nhân Quả đến cái tù mù của Bất Định.
Và diễn trình ấy đã xảy ra qua môi giới của cái không gì xứng đáng và lôgic hơn cho chức năng trung gian, đó là Lực. Thực vậy, lực rất thật vì nó là tác nhân của cái thật nhất trên đời, cái cảm thụ; nhưng lực cũng rất hư vì nó vô hình, vô tướng: Nếu đứng gần một trạm cao thế, người ta có thể bị thương vong dù lực điện ở đấy không hề nhìn thấy. Thực và Hư, ngày nay Lực đã được “chính thức” thừa nhận có hai phẩm chất đó vì lực chính là và chỉ là sự trao đổi các hạt ma trong tương tác giữa hai vật thể!
Cho nên chúng ta không thể hiểu về “Người” chỉ qua những nhu cầu “sinh học”, kể cả xã hội của nó, mà còn phải qua cái đang trở thành đề tài “thời thượng”, tức là Tâm Linh.
Tiếp với khoa học, chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề này trên một lĩnh vực hoàn toàn trái ngược với khoa học, đúng hơn hoàn toàn bị bài bác, nhân danh khoa học, bởi những người phần lớn lại hiểu biết rất ít về khoa học. Đó là lĩnh vực …
Chúng ta thừa hiểu rằng muốn nói giời nói biển gì chăng nữa thì khoa học vẫn duy trì nguyên vẹn sức thuyết phục của nó về Cái Thật của vũ trụ, của Tồn Tại, đặc biệt và trên hết của Con Người, đơn giản bởi vì khoa học ấy phù hợp với kinh nghiệm và nhận thức của, và nhất là phục vụ trực tiếp và hữu ích cho Con Người của tiền ngũ thức là nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt và đặc biệt được lấy làm tiêu chuẩn số Một cho “thực-hư”là Thân. Nhưng “Người” chỉ là thế thôi ư? Nhất là sau khi chúng ta đã hiểu lịch trình tiến hoá của khoa học thực chất là “tiến” từ Hạt Thật đến Hạt Ma, từ Cố Thể đến Trường, từ cái Khách Quan của sự vật ở ngoài con người đến cái Chủ Quan của con người hoà nhập vào sự vật, từ cái khắt khe của Nhân Quả đến cái tù mù của Bất Định.
Và diễn trình ấy đã xảy ra qua môi giới của cái không gì xứng đáng và lôgic hơn cho chức năng trung gian, đó là Lực. Thực vậy, lực rất thật vì nó là tác nhân của cái thật nhất trên đời, cái cảm thụ; nhưng lực cũng rất hư vì nó vô hình, vô tướng: Nếu đứng gần một trạm cao thế, người ta có thể bị thương vong dù lực điện ở đấy không hề nhìn thấy. Thực và Hư, ngày nay Lực đã được “chính thức” thừa nhận có hai phẩm chất đó vì lực chính là và chỉ là sự trao đổi các hạt ma trong tương tác giữa hai vật thể!
Cho nên chúng ta không thể hiểu về “Người” chỉ qua những nhu cầu “sinh học”, kể cả xã hội của nó, mà còn phải qua cái đang trở thành đề tài “thời thượng”, tức là Tâm Linh.
Tiếp với khoa học, chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề này trên một lĩnh vực hoàn toàn trái ngược với khoa học, đúng hơn hoàn toàn bị bài bác, nhân danh khoa học, bởi những người phần lớn lại hiểu biết rất ít về khoa học. Đó là lĩnh vực …
Thế giới cận hiện tượng
Chúng tôi hiểu thế giới hiện
tượng là tất cả những gì con người tri giác được bằng năm giác quan, nếu cần có
sự hỗ trợ của những dụng cụ có tính năng khuếch đại cái mà giác quan tự nhiên
không trực tiếp nhận biết được, và sự sử lý, sắp xếp của ý thức, ở đó kinh
nghiệm và trên hết lý trí, đặc biệt tinh thần và phương pháp khoa học là yếu tố
chỉ đạo đáng tin cậy. Vì năm giác quan và ý thức là sở hữu vật có “tính cộng
nghiệp” của loài người nên nói chung con người, nhất là con người của thời đại
khoa học và kỹ thuật này coi thông tin của năm giác quan và thành quả của kinh
nghiệm chung, và những dẫn xuất của nguyên lý và định luật khoa học là tri thức
duy nhất đúng về thế giới khách quan. Từ đó những “hiện tượng” chẳng những
không nằm trong kinh nghiệm “thị giác” mà còn mâu thuẫn với điều mà khoa học
khẳng định hoặc với tự thân những nguyên lý, những quy luật này khác thì lập
tức được xếp vào loại mê tín, dị đoan, mông muội, ấu trĩ, ảo giác, hoang tưởng,
v..v.. Những hiện tượng ấy chúng tôi gọi là Cận Hiện Tượng.
Một điều trớ trêu của Lịch Sử là chính trong lòng thời đại mà khoa học, kỹ thuật và thông tin lên tới những đỉnh cao chưa từng có trước đây thì cận hiện tượng lại dần dần được lúc đầu ngó tới với thái độ ít kỳ thị hơn, tiếp đó được giới “học phiệt” tiếp nhận vào nhiều tháp ngà hàn lâm, đó là điều đã sảy ra với Cận Tâm Lý chẳng hạn. Dĩ nhiên cái gọi là “thận trọng khoa học” còn ngự trị trong đông đảo các nhà khoa học, trong đó đại đa phần lại thiếu cái họ vẫn nhân danh nó để tỏ thái độ dè dặt, tức là ”thận trọng khoa học”. Trái lại phần đông những đại biểu ưu tú nhất của khoa học lý thuyết, tức là bộ môn “trí thức”nhất của khoa học xem cận hiện tượng như, tối thiểu một bổ xung cho sự hiểu biết của con người, thậm chí cho bản thân khoa học nữa.
Tại sao có thái độ đó? Đơn giản bởi vì Một là một nhà khoa học theo nghĩa “khoa học”nhất không thể nhắm mắt trước thực kiện thay vì chúi đầu vào đống cát của những “nguyên lý thần thánh”. Vậy mà vấn đề cận hiện tượng chính là và trước hết là vấn đề thực kiện. Hai là bản thân khoa học. ít nữa trong phần lý thuyết, đã thôi không còn ăn nói khăng khăng như “bố thiên hạ” theo kiểu Laplace. Nguyên lý bất định cho phép mọi thứ quyền hiện hữu, vậy xá chi cận hiện tượng!
Thực ra, với ý nghĩa không hay chưa giải thích được bằng khoa học, trái ngược với kinh nghiệm chung, một tên gọi khác của thói quen, của vọng niệm, cận hiện tượng không quá thần bí như ta tưởng, trái lại không thiếu những tình huống quen thuộc sẩy ra trong đời sống hàng ngày, hoặc ngay trong chính bản thân ta, không giải thích được hoặc khác với kinh nghiệm như các hiện tượng thần đồng, giấc mơ, linh tính, “đốn ngộ”, phản xạ “lạ”, đặc thù của cá nhân, ngẫu hợp đưa đến một bước ngoặt của đời người, v..v..
Nhiều hiện tượng kỳ bí nay đã được mặc nhiên thừa nhận rộng rãi dưới tên gọi là công năng đặc dị, hoặc hiện tượng cận tâm lý, sau khi được kiểm tra chặt chẽ và được “nghiệm thu” một cách quan phương. Thời đại nghe-nhìn ngày nay, qua những phương tiện truyền thông đại chúng nhanh chóng và tinh vi đã đem lại cho ta quá nhiều “người thật, việc thật”để mọi sự phản bác, thậm chí nghi ngờ, dè dặt gọi là “khoa học”, không còn lý do tồn tại, đấy là nói ít nhất.
Không phải ngẫu nhiên gì mà chính ở Phương Tây và Bắc Mỹ, những khu vực quá khoa học, quá hướng ngoại, quá duy vật, thậm chí quá cả “suy đồi đạo đức” như một hoà thượng Việt Nam rất nổi tiếng đã nhận định một cách rất nông cạn sau một chuyến tham quan Canada của cụ, những phép tập “duy tâm” như yoga, khí công, thiền - “Món quá quý nhất mà Phương Đông tặng cho Phương Tây” (Lassalle) -, và những cái khác lại trở thành rất thời thượng và được tìm học rất rộng rãi; hoặc Mật tông Tây Tạng lại hấp dẫn và thách thức trí tuệ Phương Tây một cách mạnh mẽ đến mức không một thứ Phật giáo “đậm tính dân tộc” nào lại so sánh được lấy một vài phân. Đây phải xem là một bằng cứ khoa học và thực kiện nữa ‘’gia cố” cho cận hiện tượng.
Có thể trong một trăm hiện tượng “cận” được loan tải, có đến, cho dù 80% hay90% trường hợp mà điều kiện kiểm nghiệm có phần luộm thuộm, hồ đồ, thiếu tính chặt chẽ của phương pháp thực sự khoa học, do đó thiếu sức thuyết phục khoa học, dĩ nhiên ta loại bỏ những trường hợp bịp bợm (tiếc thay lại có quá nhiều) thì với 20% hay 10% những trường hợp còn lại cũng đủ để ta khẳng định tính hiện thực “trên nguyên tắc” cho mọi cận hiện tượng khác. Cũng có nghĩa là từ nay chẳng còn việc gì là thần bí, là lạ lùng, là bất khả hữu.
Các cận hiện tượng được phân làm hai loại:
Tâm Tác - Nhiều người có công năng, đặc dị ở chỗ không dùng bất kỳ một công cụ hay phương tiện vật chất hay hữu hình nào mà vẫn tác động đưọc lên vật thể bên ngoài anh ta/chị ta, thí dụ di chuyển đồ vật từ xa (télékinésis), bay lên không trung (lévitation), …, thành tựu cao nhất trong lãnh vực này là “hô phong hoán vũ, đảo hải di sơn”. Tất cả được hiện thực hoá chỉ thông qua cái TÂM của người thi triển công năng, vì thế hiện tượng này được giới nghiên cứu Phương Tây gọi là PK tức Psychokinesis. Vì ở đây cái Tâm là tác nhân duy nhất, cái tâm mà “bản chất là hiện thực hoá được bất kỳ điều gì nó nghí đến với cường độ tập trung đủ mạnh” như Vivekananda từng chỉ rõ, nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Tác.
Tâm Thụ - Nhiều người có công năng, đặc dị ở chỗ tri giác được sự vật ở bên ngoài, dù xa dù gần về mặt không gian, dù trước dù sau về mặt thời gian mà, dĩ nhiên theo tự thân sự việc, không thông qua các cơ quan giác quan thông thường như mắt nhìn, tai nghe, …Thí dụ thần giao cách cảm, chỉ dẫn từ xa, nói truyện với vong, giao tiếp với người âm, xem bói đoán mộng, v..v.. Cận hiện tượng này được giới nghiên cứu Phương Tây gọi là Ngoại Cảm (extra-sensorial perception), tức là cảm nhận thông tin không qua ngả giác quan, còn ở ta, từ này được dùng rất luộm thuộm, lung tung, vô nghĩa trong những tình huống không dính đến thông tin. Cái gì cảm nhận, thụ nhận? Đó vẫn là cái Tâm, nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Thụ.
Nếu như tâm tác thi triển theo phương pháp tập trung cao độ tư duy hình tượng thì cơ chế của tâm thụ lại khó hiểu hơn nhiều.
Trước hết Tâm Tác.
Một điều trớ trêu của Lịch Sử là chính trong lòng thời đại mà khoa học, kỹ thuật và thông tin lên tới những đỉnh cao chưa từng có trước đây thì cận hiện tượng lại dần dần được lúc đầu ngó tới với thái độ ít kỳ thị hơn, tiếp đó được giới “học phiệt” tiếp nhận vào nhiều tháp ngà hàn lâm, đó là điều đã sảy ra với Cận Tâm Lý chẳng hạn. Dĩ nhiên cái gọi là “thận trọng khoa học” còn ngự trị trong đông đảo các nhà khoa học, trong đó đại đa phần lại thiếu cái họ vẫn nhân danh nó để tỏ thái độ dè dặt, tức là ”thận trọng khoa học”. Trái lại phần đông những đại biểu ưu tú nhất của khoa học lý thuyết, tức là bộ môn “trí thức”nhất của khoa học xem cận hiện tượng như, tối thiểu một bổ xung cho sự hiểu biết của con người, thậm chí cho bản thân khoa học nữa.
Tại sao có thái độ đó? Đơn giản bởi vì Một là một nhà khoa học theo nghĩa “khoa học”nhất không thể nhắm mắt trước thực kiện thay vì chúi đầu vào đống cát của những “nguyên lý thần thánh”. Vậy mà vấn đề cận hiện tượng chính là và trước hết là vấn đề thực kiện. Hai là bản thân khoa học. ít nữa trong phần lý thuyết, đã thôi không còn ăn nói khăng khăng như “bố thiên hạ” theo kiểu Laplace. Nguyên lý bất định cho phép mọi thứ quyền hiện hữu, vậy xá chi cận hiện tượng!
Thực ra, với ý nghĩa không hay chưa giải thích được bằng khoa học, trái ngược với kinh nghiệm chung, một tên gọi khác của thói quen, của vọng niệm, cận hiện tượng không quá thần bí như ta tưởng, trái lại không thiếu những tình huống quen thuộc sẩy ra trong đời sống hàng ngày, hoặc ngay trong chính bản thân ta, không giải thích được hoặc khác với kinh nghiệm như các hiện tượng thần đồng, giấc mơ, linh tính, “đốn ngộ”, phản xạ “lạ”, đặc thù của cá nhân, ngẫu hợp đưa đến một bước ngoặt của đời người, v..v..
Nhiều hiện tượng kỳ bí nay đã được mặc nhiên thừa nhận rộng rãi dưới tên gọi là công năng đặc dị, hoặc hiện tượng cận tâm lý, sau khi được kiểm tra chặt chẽ và được “nghiệm thu” một cách quan phương. Thời đại nghe-nhìn ngày nay, qua những phương tiện truyền thông đại chúng nhanh chóng và tinh vi đã đem lại cho ta quá nhiều “người thật, việc thật”để mọi sự phản bác, thậm chí nghi ngờ, dè dặt gọi là “khoa học”, không còn lý do tồn tại, đấy là nói ít nhất.
Không phải ngẫu nhiên gì mà chính ở Phương Tây và Bắc Mỹ, những khu vực quá khoa học, quá hướng ngoại, quá duy vật, thậm chí quá cả “suy đồi đạo đức” như một hoà thượng Việt Nam rất nổi tiếng đã nhận định một cách rất nông cạn sau một chuyến tham quan Canada của cụ, những phép tập “duy tâm” như yoga, khí công, thiền - “Món quá quý nhất mà Phương Đông tặng cho Phương Tây” (Lassalle) -, và những cái khác lại trở thành rất thời thượng và được tìm học rất rộng rãi; hoặc Mật tông Tây Tạng lại hấp dẫn và thách thức trí tuệ Phương Tây một cách mạnh mẽ đến mức không một thứ Phật giáo “đậm tính dân tộc” nào lại so sánh được lấy một vài phân. Đây phải xem là một bằng cứ khoa học và thực kiện nữa ‘’gia cố” cho cận hiện tượng.
Có thể trong một trăm hiện tượng “cận” được loan tải, có đến, cho dù 80% hay90% trường hợp mà điều kiện kiểm nghiệm có phần luộm thuộm, hồ đồ, thiếu tính chặt chẽ của phương pháp thực sự khoa học, do đó thiếu sức thuyết phục khoa học, dĩ nhiên ta loại bỏ những trường hợp bịp bợm (tiếc thay lại có quá nhiều) thì với 20% hay 10% những trường hợp còn lại cũng đủ để ta khẳng định tính hiện thực “trên nguyên tắc” cho mọi cận hiện tượng khác. Cũng có nghĩa là từ nay chẳng còn việc gì là thần bí, là lạ lùng, là bất khả hữu.
Các cận hiện tượng được phân làm hai loại:
Tâm Tác - Nhiều người có công năng, đặc dị ở chỗ không dùng bất kỳ một công cụ hay phương tiện vật chất hay hữu hình nào mà vẫn tác động đưọc lên vật thể bên ngoài anh ta/chị ta, thí dụ di chuyển đồ vật từ xa (télékinésis), bay lên không trung (lévitation), …, thành tựu cao nhất trong lãnh vực này là “hô phong hoán vũ, đảo hải di sơn”. Tất cả được hiện thực hoá chỉ thông qua cái TÂM của người thi triển công năng, vì thế hiện tượng này được giới nghiên cứu Phương Tây gọi là PK tức Psychokinesis. Vì ở đây cái Tâm là tác nhân duy nhất, cái tâm mà “bản chất là hiện thực hoá được bất kỳ điều gì nó nghí đến với cường độ tập trung đủ mạnh” như Vivekananda từng chỉ rõ, nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Tác.
Tâm Thụ - Nhiều người có công năng, đặc dị ở chỗ tri giác được sự vật ở bên ngoài, dù xa dù gần về mặt không gian, dù trước dù sau về mặt thời gian mà, dĩ nhiên theo tự thân sự việc, không thông qua các cơ quan giác quan thông thường như mắt nhìn, tai nghe, …Thí dụ thần giao cách cảm, chỉ dẫn từ xa, nói truyện với vong, giao tiếp với người âm, xem bói đoán mộng, v..v.. Cận hiện tượng này được giới nghiên cứu Phương Tây gọi là Ngoại Cảm (extra-sensorial perception), tức là cảm nhận thông tin không qua ngả giác quan, còn ở ta, từ này được dùng rất luộm thuộm, lung tung, vô nghĩa trong những tình huống không dính đến thông tin. Cái gì cảm nhận, thụ nhận? Đó vẫn là cái Tâm, nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Thụ.
Nếu như tâm tác thi triển theo phương pháp tập trung cao độ tư duy hình tượng thì cơ chế của tâm thụ lại khó hiểu hơn nhiều.
Trước hết Tâm Tác.
Cái Tâm tạo tác ra mọi sự, vật
qua Tư Duy Hình Tượng. Về mặt lôgic, có thể bắt đầu bằng ám thị học (suggestologie)
mà, theo E. Coué “là một sức mạnh mà chúng ta đều có từ lúc mới sinh và nó cất
giữ một năng lượng vô biên mà tuỳ theo hoàn cảnh sẽ gây ra những hiệu ứng tốt
nhất hay xấu nhất”; mà hiệu ứng y học đã, ít nhất, được thừa nhận qua hiệu ứng
Placebo, rồi dần dần chiếm lĩnh một chỗ đứng trong nền y học quan phương dưới
danh xưng ám thị liệu pháp; mà hiệu ứng “cơ bắp” thể hiện qua những phát biểu
của các nhà vô địch Youri Vlassov, Vasili Alexeyev,... và được áp dụng vào việc
huấn luyện các vận động viên thể thao như ở Đại học Colorado, như bởi huấn
luyện viên trưởng Leo Pules cho đội tuyển bóng rổ nữ Canada,...; mà tác dụng,
hiệu năng giáo dục thuyết phục đến mức ám thị giáo dục pháp của tiến sĩ Lozanov
hoặc giáo dục và học tập qua ám thị của Donald Schuster, thuộc Đại học Iowa đã
đem lại cho hai ông danh tiếng và uy tín quốc tế được đúc kết trong nhận xét
của G. A. Kitaigorovakaya thuộc viện Maurice Thorez ở Mátxcơva “Không có gì
phản bác sự thành công của việc áp dụng hệ thống ám thí giáo dục pháp để giảng dạy
cacs môn học khác nhau trong chừng mực các nguyên tắc của ám thị giáo dục pháp
được twn thủ nghiêm chỉnh”; mà các hiện tượng khinh thân, tàng hình,... chỉ là
hiệu quả của khí công, của thần công, trong đó, theo Nghiêm Tân tâm pháp hay ám
thị hình tượng là cốt tuỷ, thế nhưng khí công, theo Tiền Học Sâm, “Trong tương
lai, người Trung quốc muốn so tài với thế giới, chỉ có hai con đường: hoặc
nghiên cứu Trung Y, hoặc nghiên cữu khí công”.
Ám thị cũng là nguồn gốc động lực học của Thôi Miên. Đó là dùng trí tưởng tượng của mình áp đặt lên người khác, “áp đặt” không chỉ có nghĩa ra lệnh cho người thụ nghiệm tưởng tượng đúng như mình tưởng tượng, mà có thể làm một việc mà chính người tác nghiệm không có một khái niệm nào. Hiệu ứng của thôi miên đã được kiểm nghiệm quá nhiều khỏi cần nhắc lại, chúng ta chỉ nên lưu ý Thôi miên có thể làm ta thấy cái sự thật lại không có, và không thấy cái sự thật lại có, ngoài ra nó làm thức dậy nơi người thụ nghiệm thực hiện những khả năng siêu việt mà cả người thụ nghiệm cả người tác nghiệm đều không hề có, nhà tác nghiệm nổi tiếng, tiến sĩ Raikov có thể làm anh/chị vẽ tranh, đánh đàn,... y hệt một Raphael, một Schopin,...
Chúng tôi nghĩ rằng cơ chế thao tác của, thí dụ Youri Geller làm hỏng đồng hồ Big Ben, Trương Bảo Thắng lấy những viên thuốc ra khỏi lọ mà lọ vẫn còn đóng si niêm phong kín như cũ, Vương Lực thò tay vào thùng nấu chì sôi sùng sục để lôi ra một cục sắt trong đó,..., đều thi triển trên cơ sở ám thị, trên cơ sở “cái tâm...” như Vivekananda đã nói. Ngay cả những hiện tượng “võ công” gần đây chúng ta được xem trên màn hinh TV thi triển bởi mấy em thiếu niên Hà Tây cũng không còn “lạ lùng”gì nữa nếu ta thừa nhận như một “Tiên Đề Vũ Trụ”, sức mạnh toàn năng của cái Tâm đặt trong trạng thái nhất niệm hình tượng (visualisation). Tâm tác, tóm lại, là và bao giờ cũng là Như Vậy.
Hiện tượng tâm tác không chỉ được nghiên cứu dựa trên quan sát, mà còn được nhiều trung tâm khoa học chủ động “thí nghiệm”, trong đó nổi tiếng là các Đại học Duke, Columbia, Colorado, Princeton,... Các cuộc thí nghiệm đều được theo dõi, kiếm soát rất chặt chẽ để không có một sai sót, khe hở nào phạm phải. Sau thí nghiệm, tất cả các hồ sơ, biên bản được chuyển cho các chuyên gia toán học hàng đầu để đánh giá “hệ số” ngẫu nhiên, nói nôm na, các kết quả thu được có thể xem là “may mắn hú hoạ” đến đâu hay không cách nào được phép coi như vậy.
Và có lẽ huyền diệu hơn hết là thôi miên mở ra, trong lúc thụ cảm thôi miên, một khả năng “toàn tri” rất kỳ bí, nhưng đến đây dường như ta bắt đầu bước sang...
Ám thị cũng là nguồn gốc động lực học của Thôi Miên. Đó là dùng trí tưởng tượng của mình áp đặt lên người khác, “áp đặt” không chỉ có nghĩa ra lệnh cho người thụ nghiệm tưởng tượng đúng như mình tưởng tượng, mà có thể làm một việc mà chính người tác nghiệm không có một khái niệm nào. Hiệu ứng của thôi miên đã được kiểm nghiệm quá nhiều khỏi cần nhắc lại, chúng ta chỉ nên lưu ý Thôi miên có thể làm ta thấy cái sự thật lại không có, và không thấy cái sự thật lại có, ngoài ra nó làm thức dậy nơi người thụ nghiệm thực hiện những khả năng siêu việt mà cả người thụ nghiệm cả người tác nghiệm đều không hề có, nhà tác nghiệm nổi tiếng, tiến sĩ Raikov có thể làm anh/chị vẽ tranh, đánh đàn,... y hệt một Raphael, một Schopin,...
Chúng tôi nghĩ rằng cơ chế thao tác của, thí dụ Youri Geller làm hỏng đồng hồ Big Ben, Trương Bảo Thắng lấy những viên thuốc ra khỏi lọ mà lọ vẫn còn đóng si niêm phong kín như cũ, Vương Lực thò tay vào thùng nấu chì sôi sùng sục để lôi ra một cục sắt trong đó,..., đều thi triển trên cơ sở ám thị, trên cơ sở “cái tâm...” như Vivekananda đã nói. Ngay cả những hiện tượng “võ công” gần đây chúng ta được xem trên màn hinh TV thi triển bởi mấy em thiếu niên Hà Tây cũng không còn “lạ lùng”gì nữa nếu ta thừa nhận như một “Tiên Đề Vũ Trụ”, sức mạnh toàn năng của cái Tâm đặt trong trạng thái nhất niệm hình tượng (visualisation). Tâm tác, tóm lại, là và bao giờ cũng là Như Vậy.
Hiện tượng tâm tác không chỉ được nghiên cứu dựa trên quan sát, mà còn được nhiều trung tâm khoa học chủ động “thí nghiệm”, trong đó nổi tiếng là các Đại học Duke, Columbia, Colorado, Princeton,... Các cuộc thí nghiệm đều được theo dõi, kiếm soát rất chặt chẽ để không có một sai sót, khe hở nào phạm phải. Sau thí nghiệm, tất cả các hồ sơ, biên bản được chuyển cho các chuyên gia toán học hàng đầu để đánh giá “hệ số” ngẫu nhiên, nói nôm na, các kết quả thu được có thể xem là “may mắn hú hoạ” đến đâu hay không cách nào được phép coi như vậy.
Và có lẽ huyền diệu hơn hết là thôi miên mở ra, trong lúc thụ cảm thôi miên, một khả năng “toàn tri” rất kỳ bí, nhưng đến đây dường như ta bắt đầu bước sang...
Cõi Mờ Tâm Thụ.
Ai trong đời lại không nhiều lần.. “tôi có linh tính là...”. Và cực hiếm người chưa từng “xem bói”.
Một khái niệm tương đương với “tâm thụ” là Thấu Thị, khả năng nhìn, biết cái ẩn dấu trong lòng vật thể, đó là Thấu Thị Không Gian; và cái ẩn dấu trong lòng quá khứ hay tương lai, đó là Thấu Thị Thời Gian. Thấu thị còn có một tương đương là Thần Giao Cách Cảm
Theo thiển ý, tâm có khả năng “thụ” tối ưu khi, giống như một tấm gương được lau sạch bong do đó phản ánh được toàn bộ hiện thực chung quanh một cách tối đa, khi tâm trống rỗng, tịch lặng tối đa thì nó sẽ trở thành Đại Viên Cảnh Trí, tấm gương siêu khổng lồ ôm trọn cả vũ trụ trong lòng nó. Và đó chính là phép thiền Vô Niệm mà hiệu ứng là thành tựu trí tuệ Bồ Đề như thiền sư Lâm Tế nhận định “Mười phương chư Phật chẳng có gì kỳ đặc, chỉ vì các Ngài vào sâu được pháp môn Vô Niệm vi diệu”.
Một trong những hình thức tâm thụ rất quen thuộc mà tất cả chúng ta ít nhiều đều có tin hoặc trực tiếp tham vấn, đó là các môn xem số, bói dịch, bấm độn, gọi mạch thái tố, bói bài tây, bói bài tarot, bói chữ numerologie, v..v.. Rất ít người nghĩ rằng đây lại là thứ mê tín kếch sù nhất so với mọi loại mê tín bởi vì chính nó lại hàm ý quá khứ có trước tương lai, nguyên nhân theo sau hậu quả. Mê hay không mê, vấn đề là và chỉ là Thực Kiện, mà thực kiện thì đâu có thiếu, xa xưa văn kỳ thanh thì có Trạng Trình, Nostradamus, …, gần đây kiến kỳ hình thì có Vanga, Van Don Gène, …
Một hậu quả có thể rất bất ngờ đối với nhiều người, nhưng chúng tôi lại cho là rất lôgic, ấy là từ chính cận hiện tượng với tư cách là thực kiện, chúng ta rút ra một kết luận tất yếu dù có nghịch lý đến đâu chăng nữa, kết luận khẳng định lại chân lý Phật giáo: Nhất Thiết Duy Tâm Tạo, và vì vậy Phàm Sở Hữu Tướng, Giai Thị Hư Vọng. Và vì vậy mọi phản biện đối với cận hiện tượng nói riêng, mọi tư tưởng duy tâm tôn giáo nói chung chỉ còn là một trò Hý Luận Thế Gian không hơn không kém.
Một trong không nhiều phương hướng phát triển chính cho khoa học, cũng là cho trí tuệ nhân loại trong Thiên Niên Kỷ III này là phải tập trung nghiên cứu cận hiện tượng, cận tâm lý. Chắc chắn rồi ra công cuộc truy cầu ấy sẽ có ý nghĩa cao hơn Tin học và công nghệ máy điện toán mà ít người hiểu được vai trò của nó không chỉ là then chốt trong sinh hoạt nhân loại hiện đại mà là tín hiệu thế tục của Thông Tin hay THỨC có tư cách là hình thức nguyên thuỷ của chất liệu phổ biến, hoặc rốt ráo hơn Vạn Pháp Duy THỨC, Cố Nhất Thiết Duy THỨC. Sự phát triển cùng những khám phá nghịch lý của khoa học lý thuyết trong hơn một thế kỷ nay, như chúng tôi phác thảo phần trên, chưa làm được cái đáng ra phải làm rồi, tức là trực tiếp bầy tỏ ý kiến về cận hiện tượng dưới hình thức tập thể quan phương thay vì mới qua các cá nhân, tuy số người này khá nhiều, gồm cả những bác học đầy quyền uy trong lĩnh vực của họ, đặc biệt viện sĩ (Liên xô cũ) Youri Kovzanov: “Công cuộc nghiên cứu các hiện tượng này có ý nghĩa cao nhất đối với khoa học, và có thể đưa đến những khám phá cơ bản ngang tầm với thuyết tương đối và cơ học lượng tử”. Nhưng dù sao người ngoại đạo khoa học, thậm chí rất đông “trong đạo” nói chung vẫn cho đó là ngẫu nhiên nên khoa học đỉnh cao vẫn chưa thực hiện đưọc chức năng giáo dục của nó về mặt này như đáng ra nó làm được.
Chúng tôi cũng xếp vào cận hiên tượng những sự việc mà trước đây chưa lâu, phần lớn xã hội ta, “nhân danh” khoa học, thực chất là từ sự nghèo nàn của nhìn-nghe và nông cạn của tư duy, vẫn thường cho là hoang đường, bịp bợm như đi chân không trên lửa, xiên lình, đóng đinh vào thân, để ôtô đè lên người nằm trên một lớp mảnh chai, … Những hiện tượng này đều không tương dung với các quy luật và tư duy khoa học, nhưng tất cả, không một ngoại lệ, đều lấy “tâm tác” làm nguyên lý hoạt động y hệt như các hiện tượng PK thuần tuý.
Công cuộc nghiên cứu cận hiện tượng còn góp phần làm sáng tỏ Tâm Linh là cái chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây.
Ai trong đời lại không nhiều lần.. “tôi có linh tính là...”. Và cực hiếm người chưa từng “xem bói”.
Một khái niệm tương đương với “tâm thụ” là Thấu Thị, khả năng nhìn, biết cái ẩn dấu trong lòng vật thể, đó là Thấu Thị Không Gian; và cái ẩn dấu trong lòng quá khứ hay tương lai, đó là Thấu Thị Thời Gian. Thấu thị còn có một tương đương là Thần Giao Cách Cảm
Theo thiển ý, tâm có khả năng “thụ” tối ưu khi, giống như một tấm gương được lau sạch bong do đó phản ánh được toàn bộ hiện thực chung quanh một cách tối đa, khi tâm trống rỗng, tịch lặng tối đa thì nó sẽ trở thành Đại Viên Cảnh Trí, tấm gương siêu khổng lồ ôm trọn cả vũ trụ trong lòng nó. Và đó chính là phép thiền Vô Niệm mà hiệu ứng là thành tựu trí tuệ Bồ Đề như thiền sư Lâm Tế nhận định “Mười phương chư Phật chẳng có gì kỳ đặc, chỉ vì các Ngài vào sâu được pháp môn Vô Niệm vi diệu”.
Một trong những hình thức tâm thụ rất quen thuộc mà tất cả chúng ta ít nhiều đều có tin hoặc trực tiếp tham vấn, đó là các môn xem số, bói dịch, bấm độn, gọi mạch thái tố, bói bài tây, bói bài tarot, bói chữ numerologie, v..v.. Rất ít người nghĩ rằng đây lại là thứ mê tín kếch sù nhất so với mọi loại mê tín bởi vì chính nó lại hàm ý quá khứ có trước tương lai, nguyên nhân theo sau hậu quả. Mê hay không mê, vấn đề là và chỉ là Thực Kiện, mà thực kiện thì đâu có thiếu, xa xưa văn kỳ thanh thì có Trạng Trình, Nostradamus, …, gần đây kiến kỳ hình thì có Vanga, Van Don Gène, …
Một hậu quả có thể rất bất ngờ đối với nhiều người, nhưng chúng tôi lại cho là rất lôgic, ấy là từ chính cận hiện tượng với tư cách là thực kiện, chúng ta rút ra một kết luận tất yếu dù có nghịch lý đến đâu chăng nữa, kết luận khẳng định lại chân lý Phật giáo: Nhất Thiết Duy Tâm Tạo, và vì vậy Phàm Sở Hữu Tướng, Giai Thị Hư Vọng. Và vì vậy mọi phản biện đối với cận hiện tượng nói riêng, mọi tư tưởng duy tâm tôn giáo nói chung chỉ còn là một trò Hý Luận Thế Gian không hơn không kém.
Một trong không nhiều phương hướng phát triển chính cho khoa học, cũng là cho trí tuệ nhân loại trong Thiên Niên Kỷ III này là phải tập trung nghiên cứu cận hiện tượng, cận tâm lý. Chắc chắn rồi ra công cuộc truy cầu ấy sẽ có ý nghĩa cao hơn Tin học và công nghệ máy điện toán mà ít người hiểu được vai trò của nó không chỉ là then chốt trong sinh hoạt nhân loại hiện đại mà là tín hiệu thế tục của Thông Tin hay THỨC có tư cách là hình thức nguyên thuỷ của chất liệu phổ biến, hoặc rốt ráo hơn Vạn Pháp Duy THỨC, Cố Nhất Thiết Duy THỨC. Sự phát triển cùng những khám phá nghịch lý của khoa học lý thuyết trong hơn một thế kỷ nay, như chúng tôi phác thảo phần trên, chưa làm được cái đáng ra phải làm rồi, tức là trực tiếp bầy tỏ ý kiến về cận hiện tượng dưới hình thức tập thể quan phương thay vì mới qua các cá nhân, tuy số người này khá nhiều, gồm cả những bác học đầy quyền uy trong lĩnh vực của họ, đặc biệt viện sĩ (Liên xô cũ) Youri Kovzanov: “Công cuộc nghiên cứu các hiện tượng này có ý nghĩa cao nhất đối với khoa học, và có thể đưa đến những khám phá cơ bản ngang tầm với thuyết tương đối và cơ học lượng tử”. Nhưng dù sao người ngoại đạo khoa học, thậm chí rất đông “trong đạo” nói chung vẫn cho đó là ngẫu nhiên nên khoa học đỉnh cao vẫn chưa thực hiện đưọc chức năng giáo dục của nó về mặt này như đáng ra nó làm được.
Chúng tôi cũng xếp vào cận hiên tượng những sự việc mà trước đây chưa lâu, phần lớn xã hội ta, “nhân danh” khoa học, thực chất là từ sự nghèo nàn của nhìn-nghe và nông cạn của tư duy, vẫn thường cho là hoang đường, bịp bợm như đi chân không trên lửa, xiên lình, đóng đinh vào thân, để ôtô đè lên người nằm trên một lớp mảnh chai, … Những hiện tượng này đều không tương dung với các quy luật và tư duy khoa học, nhưng tất cả, không một ngoại lệ, đều lấy “tâm tác” làm nguyên lý hoạt động y hệt như các hiện tượng PK thuần tuý.
Công cuộc nghiên cứu cận hiện tượng còn góp phần làm sáng tỏ Tâm Linh là cái chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây.
TÂM LINH
Các hoạt động của con người, dù
có biểu hiện trực quan hay không, đều được quy về sự chỉ đạo của hệ thần kinh
động vật và thực vật, của hệ nội tiết. Đến lượt nó, hệ thần kinh được quy về
các hiện tượng hoá-điện mà cấu trúc, cơ chế ngày được phát hiện rất chính xác,
rất tinh vi do đó rất thuyết phục. Thuyết Não Luận (célébro-centrisme) cơ hồ sẽ
độc quyền tài phán về cái gọi là “tinh thần”. Nhưng chính khoa học, vật lý,
sinh học, nguyên tử học, v..v.., trên đường phát triển đã dần dần “ngộ” ra rằng
mọi việc không thể dừng ở não luận, nhờ đó Tâm Luận (psychocentrisme) bắt đầu
vươn lên tranh dành địa vị lãnh đạo với não luận. Thêm nữa, tâm luận sở dĩ mạnh
thế phần quan trọng cũng là nhờ sự hỗ trợ “khách quan”, không có chủ tâm của
các công trình nghiên cứu cận hiện tượng, từ đó Tâm Linh cũng được “ăn theo”.
Thực vậy, Tâm chỉ cái vô hình điều hành mọi hoạt động của con người như một đạo diễn ẩn diện, một nguyên lý động lực học. Não luận chủ trương Tâm ấy chỉ là phương diện tác dụng của não có cấu trúc phức tạp từ vỏ não đến các tuyến nội tiết, mà rồi ra con người có thể hiểu được trọn vẹn, tâm luận lại gán cho Tâm một tư cách tự thể chẳng những riêng biệt mà còn điều hành chính cái não ấy, từ đó Tâm có những khả năng vượt ra ngoài tầm với của não luận mà sự mô tả cơ chế, cấu trúc còn in đậm dấu vết của thời Newton. “Vượt ra ngoài”chủ yếu nhờ vào tính Linh của nó: Linh là phẩm chất gán cho mọi tác động có hiệu năng vật chất thuộc đủ tầng cấp, nhưng nguồn gốc của hiệu năng ấy lại không thể giải thích bằng tri thức thế tục, gồm cả tri thức khoa học lẫn kinh nghiệm. Tác động “linh” dù đến từ một vị thần, một vị thánh, một phù thuỷ, một “con ma”, hay gì gì đi nữa thì vẫn xem là đến từ cái vô hình có tên chung là Tâm. Tóm lại, Tâm Linh là cái tâm, hiểu ngầm là một tác nhân không có cấu trúc lý-sinh, hoá-sinh nhưng lại có hiệu ứng “linh”, hiểu ngầm là không thể giải thích bằng tri thức thế tục.
Cái tâm ấy có quan hệ thế nào với cái “quen thuộc” là Hồn, là Vía không?
Dân gian ta vẫn thường nói đến Ba Hồn, Chín Vía (hoặc bẩy cho nam giới), vậy hồn là gì? vía là gì?
Là sinh thể trước hết phải có thụ cảm mà thất tình là những biểu hiện “chủ quan đặc thù” của thụ cảm hay “thái độ đối với thụ cảm”. Điều đặc biệt lý thú là thất tình có hình hài và màu sắc hẳn hoi, biến thiên theo chủng loại và cường độ thụ cảm, tháI độ đối với thụ cảm, đôi khi mắt thường trông thấy được (ta thường gọi là ngoại cảm), “người” nói thì ta không tin, nhưng đến khi “máy”nói, (thí dụ các trang thiết bị chụp hình mà người đi tiên phong là Kirlian) thì ta mới thật, ít ra không dám phản bác giản đơn như trước kia nữa. Hình hài của thất tình nay được mang một danh xưng khoa học là thân thể năng lượng học (corps énergétique), hoặc thân thể ête (corps étherien) vì được xem là cấu tạo bởi một thể “á vật chất” gọi là ête, mà ta có thể liên hệ đến một giả thuyết gần đây về năng lượng hạt siêu nhẹ, hoặc cơ thể sinh tú (corps astral), hoặc là trường sinh học (champ biologique), trường plasma sinh học (corps bio- plasma), hình quang học (aura), v..v.. Thân thể này chính là Vía theo quan điểm của chúng tôi, nó mới đích xác là con người, là cái ngã, là thực ngã của mỗi chúng ta hơn nhiều lẫn cái thể xác luôn luôn “biến dạng” bởi vì nó mang nhiều thông tin đặc thù cho mỗi người ở mỗi lúc: Có thể căn cứ vào nó mà người ta có thể nhận biết một cá nhân cụ thể nào đó chẳng những đang mà còn đã hoặc sẽ ở trong trạng thái nào như khoẻ mạnh hay bệnh tật, lo buồn hay vui sướng, may mắn hay bất hạnh, v.. v.. Vì vía cấu tạo bằng ête á-vật-chất nên có phần chắc ête, một dạng năng lượng “thuần tuý” hơn năng lượng vật lý, rất có thể vẫn tồn tại sau khi thân thể cấu tạo bằng vật chất phân rã. Nhiều hiện tượng như “trải nghiệm ngoài thân xác” (out of body experience), bành trướng ý thức, ta quen gọi là du hồn, “người lữ hành kép” (doppelganger), phân thân, … đều chứng minh rằng cơ thể ête có thể tồn tại độc lập với thân xác, nghĩa là không cần phải “gá” vào nó như một giá đỡ, giống như trường không cần đến một cố thể làm chỗ xuất phát. Nếu hiểu vấn đề vía như thế thì các hồn ma, các polstergeist có khi “trông thấy, nghe thấy” được, các vong hiện lên trong các buổi cầu cơ, gọi hồn, … đúng phải là vía chứ không phải là hồn. Nếu vía có cấu trúc ête thì, với tư cách á vật chất vía không thể trường tồn, nhưng, cũng như và cùng với mọi hữu thể khác, với tư cách một “tập con” của tập mẹ là Thông Tin thì vía, với tính năng thông tin, sẽ vĩnh hằng như trường thông tin vậy. Cụ Nguyễn Trãi-ête có thể nay đã sang một cõi giới khác, chẳng còn dây mơ rễ má, đồng bào thân thích gì với chúng ta hiện đang sống đây; nhưng cụ Nguyễn Trãi-thông tin thì vẫn còn đó hệt như lúc sinh thời và chúng ta tha hồ mời mọc, van vỉ, thúc bách cụ hiện về qua các biện pháp như gọi hồn, cầu cơ, con lắc cảm xạ, quả cầu pha-lê, v..v.. để trả lời một số thắc mắc của chúng ta.
Khác với vía là đặc trưng cá nhân, Hồn là một Thực Thể Vô Ngã; không có truyện hồn của tôi, của anh/chị, của nó. Phải xem hồn là đạo diễn ẩn diện của vía, là người tổ chức hay đúng hơn là nguyên lý động lực học của vía, không có hồn thì không có vía. Để dễ hiểu, hồn được phân làm ba loại, đúng hơn phải nói là ba chức năng, đó là Sinh Hồn, Giác Hồn và Linh Hồn. Cho tiện chúng ta có thể quan niệm một cách sơ lược chủ nghĩa, sinh hồn là nguyên lý động lực học của hệ thần kinh thực vật, giác hồn là của hệ thần kinh động vật và linh hồn là lãnh đạo tối cao, tối thượng của mọi biểu hiện sống của sinh thể bất kỳ. Linh hồn sẽ quyết định hình thái vận hành của các chức năng sinh hồn và giác hồn cho mỗi chủng loại và mỗi cá thể của chủng loại. Quyết định tuỳ tiện chăng? Không! Quyết định dựa trên nguyên lý nhân quả: Mỗi cá thể qua giác hồn “của mình”- giác hồn bản chất là vô ngã giống như nước, nhưng vì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” nên vẫn có thể nói đến “của mình” - mà có hành vi ứng sử thế này thế nọ thì sẽ nhận lãnh hình thái sinh hồn, giác hồn thích hợp kế tiếp sau thời lượng sinh hoạt hay kiếp sống trong một loại hình sinh hồn và giác hồn nào đó.
Ba chức năng này của hồn đều được nói đến trong những nền văn minh khác nhau.
Cái tâm - citta -theo thuyết yoga gồm ba thẩm cấp, ý thức, tiềm thức và siêu thức nằm trên thân xác vật lý và nằm dưới “tinh thần”, tức là Đại Ngã Brahman. Mỗi thẩm cấp lại được cấu trúc hoá bằng những tầng kosa’s mà tầng thấp nhất chính là cơ thế hữu hình gọi là Amnamaya Kosa’s “làm bằng thực phẩm”; tầng Ka’mamaya Kosa’s cấu tạo bởi hay sản sinh ra dục vọng vốn là “linh hồn”của ý thức; tầng Manomaya Kosa’s chủ về tiềm thức, nơi cư trú của tư duy, ký ức, mộng mị, … tham gia vào hầu hết hoạt động hàng ngày của chúng ta. Riêng ký ức, có hai loại: Ký ức nội não, gồm cả những ký ức về những việc có thật nhưng bị quên hẳn và chỉ được gợi lại bằng thôi miên hoặc kích thích điện như Raikov hoặc W. Penfield đã làm. Ký ức ngoại não lưu trữ các sự kiện trong tiền kiếp có thể nổi lên trên bề mặt ý thức, tỷ như khi được “soi kiếp”bởi những người có công năng đặc dị về mặt này như E. Casey. Tầng thượng ý thức Atima’nasa Kosa’s (supramental mind) là nấc đầu tiên của thẩm cấp siêu thức chuyên trách các hoạt động trực giác, sáng tạo, mộng triệu, tâm tác, tâm thụ (gọi chung là PSI), … Trên tầng này là tầng tri giác siêu việt (subliminal mind) Vijna’namaya Kosa’s của siêu thức, có lẽ đây tương ứng với cái tâm “ưng vô sở trụ”, cứu cánh thể nhập của thiền Phật giáo. Tầng cuối cùng của siêu thức là Hiranyamaya Kosa’s được hình tượng hoá bằng kim loại vàng, có lẽ để hàm ý rằng nó vẫn chỉ là một bộ phận của tâm citta là cái còn chưa tích nhập vào Đại Ngã Brahma.
Người Do Thái Cổ Đại, dựa theo huyền học Ai Cập cũng quan niệm hồn gồm ba lớp: Lớp thấp nhất Nephesch hay hồn bản năng, rõ ràng là tương ứng với sinh hồn, lớp cao nhất là hồn thiêng liêng Nashamah, tương ứng với linh hồn, coi là người chủ điều hành mọi biểu hiện của con người qua phương tiện trung gian là giác hồn Rouah hay hồn của ý chí và dục vọng. Như vậy hồn trong quan niệm của người Do Thái là những chức năng vô ngã, phi đặc thù tính cá nhân. Hình như họ đã không bàn tới cái gì quyết định hình thái chủng loại cho sinh hồn và hình thái cá tính cho giác hồn. Có thể họ hàm ý trong việc chi tiết hoá mỗi lớp ra thành ba tiểu lớp Nephesh, Rouah và Nashamah, thành thử tổng cộng có đến chín lớp.
Với người Cổ Ai Cập, hồn có cấu trúc chín lớp là Khat, Ka, Khaibit, Ab, Ba, Sekhem, Ru, Sahu và Akhu. Khat liên hệ mật thiết với thân xác vật lý và khi thân xác này phân rã thì Khat là “đại diện”cuối cùng của hồn còn nấn ná trú lại ở xương nên nó còn gọi là “cái thần của xương”. Có vẻ như hiện tượng động mồ, động mả liên quan tới Khat. Lớp Ka, lực sinh học hay từ tính toả ra từ mỗi phần tử của nhân thể, có vẻ tương ứng với “khí”; lớp Khaibit, bản sao của thân xác sinh học tạo hình từ ête. Cả ba lớp này từ thô đến tế có thể gộp trong hồn Nephesh, nó liên thông với Akhu tương ứng với Nashamah thông qua Ab là năng lực tri giác; Ba đặc trưng cá nhân; Sekhem tác nhân cố kết Ba; Ru thực hiện một liên tục tính nào đó giữa con người đang sống và con người ấy sau khi chết. Bốn lớp này tương ứng với giác hồn Rouah. Sahu, vỏ ngoài của Akhu, cả hai gộp lại tương ứng với linh hồn Nashamah.
Khái niệm “tâm linh”mà chúng ta quen dùng có dáng dấp của Khaibit, mang đặc tính của Ru như trong trường hợp B. H. trông thấy và nói truyện với hồn ma, và năng lực tri giác của Ab trong linh tính, mộng triệu, “biết rõ hay đoán ra” quá khứ, tương lai. Hoặc tâm linh là hình thái biểu thị của tầng tiềm thức Manomaya Kosa’s và tầng thượng ý thức Atima’nasa Kosa’s.
Đối với nền văn hoá Việt Nam quen thuộc của chúng ta, đơn giản lắm, Tâm Linh chính là Thần. Thần nói chung không nhìn thấy được, nên Thần là Tâm, Thần nhiều phép thuật lắm, không thể lường hết được: “Biến hoá mạc trắc vị chi Thần”, nên Thần là Linh. Nói chung không nhìn thấy, nhưng cũng có lúc, trong điều kiện đặc thù nào đó của hoàn cảnh, Thần xuất hiện với đầy đủ “đầu, mình và chân tay”, bình dân nhất là thần cây đa, thần Hà Bá, thần núi Tản,... trước những cặp mắt sùng bái của phàm nhân, nghĩa là của những con người “phổ thông”, có điều, do sự cẩu thả mà con người phổ thông hay mắc phải về ngôn ngữ nên thường có sự lẫn lộn Thần với Thánh. Chúng ta cần minh định rõ: Thần khi nói đến hiệu ứng Linh, do đó Thần còn ham “biểu diễn” quyền năng; trái lại Thánh nặng về mặt Tuệ, do đó Thán thích lối sống nhiều phẩm hạnh.
Điều bất ngờ là Tâm Linh rất gần gũi với Thần khi xem xét vấn đề dưới giác độ khoa học: Trong khoa học hiện đại, cái vô hình, cái phiếm hình giống như Tâm chính là Năng Lượng. Vì năng lượng làm ra đủ thứ trong vũ trụ, nên năng lượng là Linh. Một nhà bác học lớn của Pháp đã nói thẳng điều này: “Năng lượng tượng trưng cho hình thái nguyên thuỷ của Chất Liệu phổ biến; mọi năng lượng, về bản chất, là Tâm Linh”. Tuy phiếm hình, năng lượng, rất nhiều khi, ít nữa trước nhục nhãn thế gian, lại xuất hiện trong muôn hình tướng trực quan, đó là Vật Chất, là “năng lượng tụ lại đến cực điểm”.
Một bất ngờ khác cũng rất thú vị, nó dẫn dắt Tâm Linh từ con lắc của khoa cảm xạ đến nguồn gốc nguyên thuỷ là Vô Thức. Các công trình nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc, dựa trên những sự kiện không thể phản bác về mặt “hiện tượng”, đã đi tới kết luận con lắc, thay vì chỉ là một vật thể vật lý giao động dưới hiệu ứng hấp dẫn, lại là một chỉ dẫn, một thông tin rất phong phú. Thông tin về nhiều phương diện của hiện thực, từ hiện thực tự nhiên, “vô tri” như mạch nước ngầm, mỏ kim loại, mỏ dầu, những vật cất kín trong lòng đất,... đến hiện thực nhân sinh như bệnh tật, rủi may, số phận,... trong quá khứ, hiện tại và tương lai của một cá nhân, thông tin không chỉ qua kênh trực tiếp tiếp xúc với đối tác mà còn gián tiếp từ xa (khoa cảm xạ từ xa - téléradiesthésie). Jacques Bersez cho rằng hiệu ứng thông tin của con lắc chính là và chỉ là hiệu ứng của cái Tâm được đặt vào tình huống cảm xạ, tức là “quán tưởng”.
Chúng ta đã biết rằng trường điện từ cấu thành thời-không vũ trụ, trong đó mỗi hữu thể vật chất chỉ là kiến trúc thượng tầng phức hợp của các sóng điện từ. Khoảng 15 tỷ năm trước, khi sóng điện từ bắt đầu sáng tạo thế giới thì trong tiềm thế, nó đã là tập hợp tất cả những hàm số sóng khả hữu của thế gian này nên nó đã mang, trong tiềm thế, toàn bộ thông tin toán học khách quan của thế gian; là tập hợp, trong tiềm thế, tất cả những mô hình toán học của mọi vật thể, mọi sự việc khả dĩ của thế gian. Tại sao lại “toán học”? Giao động sóng được biểu diễn trong toán học bằng các hàm số sin, vậy mà giao động ấy lại cấu thành thế giới hiện tượng nên có thể nói các hàm số này là toàn bộ nền toán học phức của thế giới. Đi sâu hơn, vì vũ trụ được xây dựng từ trường Thông Tin, mà thông tin lại lộ hình toàn đồ (mỗi thông tin đều hàm dung mọi thông tin khác) qua giao động sóng điện từ. Mỗi phương diện nhất định của “toàn đồ” đều có thể “đọc được”, giải mã được bằng cách biến đổi hàm số sóng ra thành chuỗi Fourrier, vậy nên toàn bộ vũ trụ xuất sinh từ Thông Tin Toán Học. Thông tin ấy lại được con người “thức” một cách nào đó, thí dụ bằng con lắc, thực ra là bằng cái Thức hoàn toàn vô ngã gọi tên là Vô Thức Toán Học. Cái đứng sau, cái chỉ đạo việc giải mã bằng hình thức toán học là vô thức toán học. Vì có rất nhiều cách giải mã thông tin khác nữa, thí dụ bằng con lắc, bằng quă cầu pha lê,..., cái đứng sau, cái chỉ đạo việc giải mã bằng hình thức “dị đoan” ấy gọi là Tâm Linh.
Nếu Lực đóng vai trung gian giữa thế giới của hiện tượng thô cư trú bởi cố thể và cai trị bởi Nhân-Quả và thế giới của hiện tượng tế gồm những thành viên phiếm hình xuất thân từ trường Chân Không Vật Lý và chìm trong Bất Định của cái Diệu Hữu, thì cũng có thể nói rằng Tâm Linh làm môi giới cho sự chuyển tiếp từ Thân Xác chế ngự bởi nhu cầu vật chất của những cá ngã khác nhau, do đó triền miên xung đột sang Như-Như là cội nguồn nguyên thuỷ của những “ảo nhân”đã quên mất tính Đồng Thể của chúng.
Tóm lại tâm linh, dù rất “linh”vẫn thuộc về giác hồn, cái hồn của phàm phu, do đó rồi ra cũng sẽ tiêu vong, dù muộn sau rất nhiều sự phân rã của thân xác, tiêu vong về mặt ý chí và dục vọng của một con người đã từng hiện hữu trên Trái Đất này, nhưng không hẳn tiêu vong về mặt thông tin vốn dĩ hoàn toàn Vô Ngã.
Thực vậy, Tâm chỉ cái vô hình điều hành mọi hoạt động của con người như một đạo diễn ẩn diện, một nguyên lý động lực học. Não luận chủ trương Tâm ấy chỉ là phương diện tác dụng của não có cấu trúc phức tạp từ vỏ não đến các tuyến nội tiết, mà rồi ra con người có thể hiểu được trọn vẹn, tâm luận lại gán cho Tâm một tư cách tự thể chẳng những riêng biệt mà còn điều hành chính cái não ấy, từ đó Tâm có những khả năng vượt ra ngoài tầm với của não luận mà sự mô tả cơ chế, cấu trúc còn in đậm dấu vết của thời Newton. “Vượt ra ngoài”chủ yếu nhờ vào tính Linh của nó: Linh là phẩm chất gán cho mọi tác động có hiệu năng vật chất thuộc đủ tầng cấp, nhưng nguồn gốc của hiệu năng ấy lại không thể giải thích bằng tri thức thế tục, gồm cả tri thức khoa học lẫn kinh nghiệm. Tác động “linh” dù đến từ một vị thần, một vị thánh, một phù thuỷ, một “con ma”, hay gì gì đi nữa thì vẫn xem là đến từ cái vô hình có tên chung là Tâm. Tóm lại, Tâm Linh là cái tâm, hiểu ngầm là một tác nhân không có cấu trúc lý-sinh, hoá-sinh nhưng lại có hiệu ứng “linh”, hiểu ngầm là không thể giải thích bằng tri thức thế tục.
Cái tâm ấy có quan hệ thế nào với cái “quen thuộc” là Hồn, là Vía không?
Dân gian ta vẫn thường nói đến Ba Hồn, Chín Vía (hoặc bẩy cho nam giới), vậy hồn là gì? vía là gì?
Là sinh thể trước hết phải có thụ cảm mà thất tình là những biểu hiện “chủ quan đặc thù” của thụ cảm hay “thái độ đối với thụ cảm”. Điều đặc biệt lý thú là thất tình có hình hài và màu sắc hẳn hoi, biến thiên theo chủng loại và cường độ thụ cảm, tháI độ đối với thụ cảm, đôi khi mắt thường trông thấy được (ta thường gọi là ngoại cảm), “người” nói thì ta không tin, nhưng đến khi “máy”nói, (thí dụ các trang thiết bị chụp hình mà người đi tiên phong là Kirlian) thì ta mới thật, ít ra không dám phản bác giản đơn như trước kia nữa. Hình hài của thất tình nay được mang một danh xưng khoa học là thân thể năng lượng học (corps énergétique), hoặc thân thể ête (corps étherien) vì được xem là cấu tạo bởi một thể “á vật chất” gọi là ête, mà ta có thể liên hệ đến một giả thuyết gần đây về năng lượng hạt siêu nhẹ, hoặc cơ thể sinh tú (corps astral), hoặc là trường sinh học (champ biologique), trường plasma sinh học (corps bio- plasma), hình quang học (aura), v..v.. Thân thể này chính là Vía theo quan điểm của chúng tôi, nó mới đích xác là con người, là cái ngã, là thực ngã của mỗi chúng ta hơn nhiều lẫn cái thể xác luôn luôn “biến dạng” bởi vì nó mang nhiều thông tin đặc thù cho mỗi người ở mỗi lúc: Có thể căn cứ vào nó mà người ta có thể nhận biết một cá nhân cụ thể nào đó chẳng những đang mà còn đã hoặc sẽ ở trong trạng thái nào như khoẻ mạnh hay bệnh tật, lo buồn hay vui sướng, may mắn hay bất hạnh, v.. v.. Vì vía cấu tạo bằng ête á-vật-chất nên có phần chắc ête, một dạng năng lượng “thuần tuý” hơn năng lượng vật lý, rất có thể vẫn tồn tại sau khi thân thể cấu tạo bằng vật chất phân rã. Nhiều hiện tượng như “trải nghiệm ngoài thân xác” (out of body experience), bành trướng ý thức, ta quen gọi là du hồn, “người lữ hành kép” (doppelganger), phân thân, … đều chứng minh rằng cơ thể ête có thể tồn tại độc lập với thân xác, nghĩa là không cần phải “gá” vào nó như một giá đỡ, giống như trường không cần đến một cố thể làm chỗ xuất phát. Nếu hiểu vấn đề vía như thế thì các hồn ma, các polstergeist có khi “trông thấy, nghe thấy” được, các vong hiện lên trong các buổi cầu cơ, gọi hồn, … đúng phải là vía chứ không phải là hồn. Nếu vía có cấu trúc ête thì, với tư cách á vật chất vía không thể trường tồn, nhưng, cũng như và cùng với mọi hữu thể khác, với tư cách một “tập con” của tập mẹ là Thông Tin thì vía, với tính năng thông tin, sẽ vĩnh hằng như trường thông tin vậy. Cụ Nguyễn Trãi-ête có thể nay đã sang một cõi giới khác, chẳng còn dây mơ rễ má, đồng bào thân thích gì với chúng ta hiện đang sống đây; nhưng cụ Nguyễn Trãi-thông tin thì vẫn còn đó hệt như lúc sinh thời và chúng ta tha hồ mời mọc, van vỉ, thúc bách cụ hiện về qua các biện pháp như gọi hồn, cầu cơ, con lắc cảm xạ, quả cầu pha-lê, v..v.. để trả lời một số thắc mắc của chúng ta.
Khác với vía là đặc trưng cá nhân, Hồn là một Thực Thể Vô Ngã; không có truyện hồn của tôi, của anh/chị, của nó. Phải xem hồn là đạo diễn ẩn diện của vía, là người tổ chức hay đúng hơn là nguyên lý động lực học của vía, không có hồn thì không có vía. Để dễ hiểu, hồn được phân làm ba loại, đúng hơn phải nói là ba chức năng, đó là Sinh Hồn, Giác Hồn và Linh Hồn. Cho tiện chúng ta có thể quan niệm một cách sơ lược chủ nghĩa, sinh hồn là nguyên lý động lực học của hệ thần kinh thực vật, giác hồn là của hệ thần kinh động vật và linh hồn là lãnh đạo tối cao, tối thượng của mọi biểu hiện sống của sinh thể bất kỳ. Linh hồn sẽ quyết định hình thái vận hành của các chức năng sinh hồn và giác hồn cho mỗi chủng loại và mỗi cá thể của chủng loại. Quyết định tuỳ tiện chăng? Không! Quyết định dựa trên nguyên lý nhân quả: Mỗi cá thể qua giác hồn “của mình”- giác hồn bản chất là vô ngã giống như nước, nhưng vì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” nên vẫn có thể nói đến “của mình” - mà có hành vi ứng sử thế này thế nọ thì sẽ nhận lãnh hình thái sinh hồn, giác hồn thích hợp kế tiếp sau thời lượng sinh hoạt hay kiếp sống trong một loại hình sinh hồn và giác hồn nào đó.
Ba chức năng này của hồn đều được nói đến trong những nền văn minh khác nhau.
Cái tâm - citta -theo thuyết yoga gồm ba thẩm cấp, ý thức, tiềm thức và siêu thức nằm trên thân xác vật lý và nằm dưới “tinh thần”, tức là Đại Ngã Brahman. Mỗi thẩm cấp lại được cấu trúc hoá bằng những tầng kosa’s mà tầng thấp nhất chính là cơ thế hữu hình gọi là Amnamaya Kosa’s “làm bằng thực phẩm”; tầng Ka’mamaya Kosa’s cấu tạo bởi hay sản sinh ra dục vọng vốn là “linh hồn”của ý thức; tầng Manomaya Kosa’s chủ về tiềm thức, nơi cư trú của tư duy, ký ức, mộng mị, … tham gia vào hầu hết hoạt động hàng ngày của chúng ta. Riêng ký ức, có hai loại: Ký ức nội não, gồm cả những ký ức về những việc có thật nhưng bị quên hẳn và chỉ được gợi lại bằng thôi miên hoặc kích thích điện như Raikov hoặc W. Penfield đã làm. Ký ức ngoại não lưu trữ các sự kiện trong tiền kiếp có thể nổi lên trên bề mặt ý thức, tỷ như khi được “soi kiếp”bởi những người có công năng đặc dị về mặt này như E. Casey. Tầng thượng ý thức Atima’nasa Kosa’s (supramental mind) là nấc đầu tiên của thẩm cấp siêu thức chuyên trách các hoạt động trực giác, sáng tạo, mộng triệu, tâm tác, tâm thụ (gọi chung là PSI), … Trên tầng này là tầng tri giác siêu việt (subliminal mind) Vijna’namaya Kosa’s của siêu thức, có lẽ đây tương ứng với cái tâm “ưng vô sở trụ”, cứu cánh thể nhập của thiền Phật giáo. Tầng cuối cùng của siêu thức là Hiranyamaya Kosa’s được hình tượng hoá bằng kim loại vàng, có lẽ để hàm ý rằng nó vẫn chỉ là một bộ phận của tâm citta là cái còn chưa tích nhập vào Đại Ngã Brahma.
Người Do Thái Cổ Đại, dựa theo huyền học Ai Cập cũng quan niệm hồn gồm ba lớp: Lớp thấp nhất Nephesch hay hồn bản năng, rõ ràng là tương ứng với sinh hồn, lớp cao nhất là hồn thiêng liêng Nashamah, tương ứng với linh hồn, coi là người chủ điều hành mọi biểu hiện của con người qua phương tiện trung gian là giác hồn Rouah hay hồn của ý chí và dục vọng. Như vậy hồn trong quan niệm của người Do Thái là những chức năng vô ngã, phi đặc thù tính cá nhân. Hình như họ đã không bàn tới cái gì quyết định hình thái chủng loại cho sinh hồn và hình thái cá tính cho giác hồn. Có thể họ hàm ý trong việc chi tiết hoá mỗi lớp ra thành ba tiểu lớp Nephesh, Rouah và Nashamah, thành thử tổng cộng có đến chín lớp.
Với người Cổ Ai Cập, hồn có cấu trúc chín lớp là Khat, Ka, Khaibit, Ab, Ba, Sekhem, Ru, Sahu và Akhu. Khat liên hệ mật thiết với thân xác vật lý và khi thân xác này phân rã thì Khat là “đại diện”cuối cùng của hồn còn nấn ná trú lại ở xương nên nó còn gọi là “cái thần của xương”. Có vẻ như hiện tượng động mồ, động mả liên quan tới Khat. Lớp Ka, lực sinh học hay từ tính toả ra từ mỗi phần tử của nhân thể, có vẻ tương ứng với “khí”; lớp Khaibit, bản sao của thân xác sinh học tạo hình từ ête. Cả ba lớp này từ thô đến tế có thể gộp trong hồn Nephesh, nó liên thông với Akhu tương ứng với Nashamah thông qua Ab là năng lực tri giác; Ba đặc trưng cá nhân; Sekhem tác nhân cố kết Ba; Ru thực hiện một liên tục tính nào đó giữa con người đang sống và con người ấy sau khi chết. Bốn lớp này tương ứng với giác hồn Rouah. Sahu, vỏ ngoài của Akhu, cả hai gộp lại tương ứng với linh hồn Nashamah.
Khái niệm “tâm linh”mà chúng ta quen dùng có dáng dấp của Khaibit, mang đặc tính của Ru như trong trường hợp B. H. trông thấy và nói truyện với hồn ma, và năng lực tri giác của Ab trong linh tính, mộng triệu, “biết rõ hay đoán ra” quá khứ, tương lai. Hoặc tâm linh là hình thái biểu thị của tầng tiềm thức Manomaya Kosa’s và tầng thượng ý thức Atima’nasa Kosa’s.
Đối với nền văn hoá Việt Nam quen thuộc của chúng ta, đơn giản lắm, Tâm Linh chính là Thần. Thần nói chung không nhìn thấy được, nên Thần là Tâm, Thần nhiều phép thuật lắm, không thể lường hết được: “Biến hoá mạc trắc vị chi Thần”, nên Thần là Linh. Nói chung không nhìn thấy, nhưng cũng có lúc, trong điều kiện đặc thù nào đó của hoàn cảnh, Thần xuất hiện với đầy đủ “đầu, mình và chân tay”, bình dân nhất là thần cây đa, thần Hà Bá, thần núi Tản,... trước những cặp mắt sùng bái của phàm nhân, nghĩa là của những con người “phổ thông”, có điều, do sự cẩu thả mà con người phổ thông hay mắc phải về ngôn ngữ nên thường có sự lẫn lộn Thần với Thánh. Chúng ta cần minh định rõ: Thần khi nói đến hiệu ứng Linh, do đó Thần còn ham “biểu diễn” quyền năng; trái lại Thánh nặng về mặt Tuệ, do đó Thán thích lối sống nhiều phẩm hạnh.
Điều bất ngờ là Tâm Linh rất gần gũi với Thần khi xem xét vấn đề dưới giác độ khoa học: Trong khoa học hiện đại, cái vô hình, cái phiếm hình giống như Tâm chính là Năng Lượng. Vì năng lượng làm ra đủ thứ trong vũ trụ, nên năng lượng là Linh. Một nhà bác học lớn của Pháp đã nói thẳng điều này: “Năng lượng tượng trưng cho hình thái nguyên thuỷ của Chất Liệu phổ biến; mọi năng lượng, về bản chất, là Tâm Linh”. Tuy phiếm hình, năng lượng, rất nhiều khi, ít nữa trước nhục nhãn thế gian, lại xuất hiện trong muôn hình tướng trực quan, đó là Vật Chất, là “năng lượng tụ lại đến cực điểm”.
Một bất ngờ khác cũng rất thú vị, nó dẫn dắt Tâm Linh từ con lắc của khoa cảm xạ đến nguồn gốc nguyên thuỷ là Vô Thức. Các công trình nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc, dựa trên những sự kiện không thể phản bác về mặt “hiện tượng”, đã đi tới kết luận con lắc, thay vì chỉ là một vật thể vật lý giao động dưới hiệu ứng hấp dẫn, lại là một chỉ dẫn, một thông tin rất phong phú. Thông tin về nhiều phương diện của hiện thực, từ hiện thực tự nhiên, “vô tri” như mạch nước ngầm, mỏ kim loại, mỏ dầu, những vật cất kín trong lòng đất,... đến hiện thực nhân sinh như bệnh tật, rủi may, số phận,... trong quá khứ, hiện tại và tương lai của một cá nhân, thông tin không chỉ qua kênh trực tiếp tiếp xúc với đối tác mà còn gián tiếp từ xa (khoa cảm xạ từ xa - téléradiesthésie). Jacques Bersez cho rằng hiệu ứng thông tin của con lắc chính là và chỉ là hiệu ứng của cái Tâm được đặt vào tình huống cảm xạ, tức là “quán tưởng”.
Chúng ta đã biết rằng trường điện từ cấu thành thời-không vũ trụ, trong đó mỗi hữu thể vật chất chỉ là kiến trúc thượng tầng phức hợp của các sóng điện từ. Khoảng 15 tỷ năm trước, khi sóng điện từ bắt đầu sáng tạo thế giới thì trong tiềm thế, nó đã là tập hợp tất cả những hàm số sóng khả hữu của thế gian này nên nó đã mang, trong tiềm thế, toàn bộ thông tin toán học khách quan của thế gian; là tập hợp, trong tiềm thế, tất cả những mô hình toán học của mọi vật thể, mọi sự việc khả dĩ của thế gian. Tại sao lại “toán học”? Giao động sóng được biểu diễn trong toán học bằng các hàm số sin, vậy mà giao động ấy lại cấu thành thế giới hiện tượng nên có thể nói các hàm số này là toàn bộ nền toán học phức của thế giới. Đi sâu hơn, vì vũ trụ được xây dựng từ trường Thông Tin, mà thông tin lại lộ hình toàn đồ (mỗi thông tin đều hàm dung mọi thông tin khác) qua giao động sóng điện từ. Mỗi phương diện nhất định của “toàn đồ” đều có thể “đọc được”, giải mã được bằng cách biến đổi hàm số sóng ra thành chuỗi Fourrier, vậy nên toàn bộ vũ trụ xuất sinh từ Thông Tin Toán Học. Thông tin ấy lại được con người “thức” một cách nào đó, thí dụ bằng con lắc, thực ra là bằng cái Thức hoàn toàn vô ngã gọi tên là Vô Thức Toán Học. Cái đứng sau, cái chỉ đạo việc giải mã bằng hình thức toán học là vô thức toán học. Vì có rất nhiều cách giải mã thông tin khác nữa, thí dụ bằng con lắc, bằng quă cầu pha lê,..., cái đứng sau, cái chỉ đạo việc giải mã bằng hình thức “dị đoan” ấy gọi là Tâm Linh.
Nếu Lực đóng vai trung gian giữa thế giới của hiện tượng thô cư trú bởi cố thể và cai trị bởi Nhân-Quả và thế giới của hiện tượng tế gồm những thành viên phiếm hình xuất thân từ trường Chân Không Vật Lý và chìm trong Bất Định của cái Diệu Hữu, thì cũng có thể nói rằng Tâm Linh làm môi giới cho sự chuyển tiếp từ Thân Xác chế ngự bởi nhu cầu vật chất của những cá ngã khác nhau, do đó triền miên xung đột sang Như-Như là cội nguồn nguyên thuỷ của những “ảo nhân”đã quên mất tính Đồng Thể của chúng.
Tóm lại tâm linh, dù rất “linh”vẫn thuộc về giác hồn, cái hồn của phàm phu, do đó rồi ra cũng sẽ tiêu vong, dù muộn sau rất nhiều sự phân rã của thân xác, tiêu vong về mặt ý chí và dục vọng của một con người đã từng hiện hữu trên Trái Đất này, nhưng không hẳn tiêu vong về mặt thông tin vốn dĩ hoàn toàn Vô Ngã.
Niềm tin vào TâmLinh có ý nghĩa
gì với nhân loại?
Nếu con người tin vào tính hiện
thực của Tâm Linh, của cái Tâm vẫn tồn tại sau khi chết, có những hiệu năng
“linh” kỳ vĩ mà không thể giải thích bằng các tri thức thế tục, và, với tư cách
bộ phận của một cái “Hồn”là cơ chế cho sự tiếp tục “sống” trên vòng luân hồi
theo luật nhân-quả; mặt khác cái Tâm ấy chỉ “linh” khi có sự tu luyện song song
với một chế độ trì giới nhất định, tức là một mức độ hạn chế dục vọng nhất định
thì đời sống nhân loại sẽ tránh khỏi những thảm kịch gây ra bởi, hoặc niềm tin
duy vật chủ nghĩa cho rằng ngoài vật chất không có gì khác và chết là hết, do đó
sống là sống tranh thủ, tranh thủ bằng mọi cách, mọi thủ đoạn; hoặc tuy bán tín
bán nghi nhưng không đủ sức cưỡng lại sức lôi cuốn “hiện sinh chủ nghĩa”của dục
lạc thế gian mà hành động như thể ngoài dục lạc ra “còn lại chỉ là truyện phù
phiếm” (Le reste n’est que vanité-Diderot).
Hoặc bởi quá thiên trọng khoa học, việc này không chỉ gây ra, qua tay kỹ thuật sản xuất, những đe doạ sinh thái hết sức trầm trọng, mà còn góp phần tích cực vào thái độ coi nhẹ tâm linh như một đối thể khả nghi của khoa học vạn năng, từ đó phần nào và gián tiếp tiếp tay cho “cái lý”của lối sống vô đạo lý, lối sống không có đạo đức hay “sự bất lực trong hành động”, lại càng gia tăng phản bác lối sống thanh đạm mà tu dưỡng tâm linh yêu cầu, do đó đẩy nhanh cuộc chạy đua trong xã hội tiêu thụ - Khoa học chính là như vậy trong thực tiễn nhân sinh.
Đương nhiên cũng không phải chỉ là như vậy. Y nghĩa tinh tuý nhất của khoa học là Hiểu Biết. Nhưng hiểu biết để làm gì? Hầu như mọi người đều nhất loạt khẳng định để phục vụ con người và ai nấy xoa tay khoan khoái vì đã xong rồi một câu trả lời đanh thép và sáng ngời chính nghĩa. Và chính lịch sử hiện thực chứng thực cho câu trả lời ấy trên cả hai vế của nó, tức là “con người” và “phục vụ”.
Vì mỗi con người cụ thể đều thuộc vào một cộng đồng nào đó, được ràng buộc bởi nghề nghiệp, quyền lợi, huyết thống, dân tộc, …Trên lý luận, thí dụ đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa sô-vanh, thuyết không gian sinh tồn, …và trên thực tế lịch sử ở mọi nơi, vào mọi lúc, cụm từ “phục vụ con người” quy định trong khuôn viên ấy tương đương, không một ngoại lệ và không một hưu tức, với Xung Đột, Chiến Tranh và Ap Bức. Thậm chí “phục vụ con người” kiểu ấy, và tiếc rằng đến nay cũng chưa thấy kiểu nào khác từng chiếm giữ, dù chỉ một thời lưọng ngắn ngủi, một vị thế ít nhiều được nể trọng, càng “cao đẹp” bao nhiêu thì con người càng đê tiện bấy nhiêu, càng “nhân đạo” bao nhiêu thì xung đột xã hội càng dã man bấy nhiêu. Khá hiển nhiên rằng con người trong tất cả những hình thái tư tưởng trên đều được quan niệm, trên mặt cấu trúc nhân tính, thiếu hẳn hay bỏ quên thành phần “người” nhất, tức là Tâm Linh. Không một hy vọng “cứu rỗi” nào hết đến với nhân loại trong thế kỷ này nếu Tâm Linh không được khẳng quyết tính hiện hữu của nó trong đời sống mỗi người. May thay, khoa học, trong đà phát triển hiện nay của nó, cùng với cận tâm lý, lại hỗ trợ cho nhu cầu khẳng quyết ấy một cách hết sức thuyết phục và sáng rõ theo cung cách của “ngón tay chỉ Trăng”.
Cũng vì quan niệm con người theo cách trên, thực chất là đạo đức giả, là mánh lới gian manh, là u minh trong dối trá hoặc dối trá trong u minh, nên “phục vụ”không có nội dung nào khác hơn “nâng cao đời sống”, trước hết và sau hết, đời sống vật chất. Ai chẳng biết và ai chẳng thừa nhận “Có Thực mới vực được Đạo” và ai chẳng nói và ai chẳng cố dành bằng được cái đối tượng của “nâng cao”ấy, bao giờ cũng toả ánh hào quang trong mọi đấu tranh chính trị là Quần Chúng, là Nhân Dân. Vì ai cũng nói và ai cũng cố từ “vô thỉ” trong hiện thực của cái mà thuộc tính bản chất được xác định là gian dối, bạc ác, bất nhân, cái ấy là Chính Trị nên phải có một nguyên nhân thường hằng, bât biến nào đó chứ? Nguyên nhân ấy vẫn là và chỉ là sự mờ nhạt, nếu không muốn nói là sự lãng quên, sự bỏ mất Tâm Linh trong sinh hoạt hay trong hoạt động trí tuệ. Nếu mọi người, đặc biệt nhà chính trị thời đại này, xác tín rằng “trong” cái thân xác vật lý chắc thật này còn có một cái chắc thật hơn nhiều lần vì trường tồn và có hiêụ năng kỳ vĩ hơn nhiều lần, ngoài ra gián tiếp qua sự có thực của nó, đang chờ kia một Tưởng Thưởng hay một Trừng Phạt còn chắc thật nhiều lần hơn cái thân xác vật lý chắc thật ấy, cái đó là Tâm Linh thì làm gì còn nữa “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” hoặc “người là chó sói của người”.
Tâm linh ấy là đối thể của thân xác và cái gắn liền với nó, nhu cầu khoái lạc giác quan. Tuy tâm linhvẫn có đó “trong” ta và “của” ta, nhưng đâu hiện rõ “đầu, mình và chân tay” cho ta kính yêu và phục vụ. Để nó hiển lộ, để ta nhận diện được nó, nghĩa là nhận diện chính ta thì, vì nó, do bản chất, không “ưa”gì khoái lạc giác quan nên ta cũng phải theo gương mà, ít nữa sống thanh đạm một chút.
Một cuộc sống thanh đạm do yêu cầu của cái đầy quyền uy và hứa hẹn là Tâm Linh vẫn là, trong suy nghĩ và sẽ là trong hiện thực, mô hình sinh hoạt tất yếu cho một xã hội lý tưởng nhất, an toàn nhất, trí nhất mà con người có thể hình dung được.
Hoặc bởi quá thiên trọng khoa học, việc này không chỉ gây ra, qua tay kỹ thuật sản xuất, những đe doạ sinh thái hết sức trầm trọng, mà còn góp phần tích cực vào thái độ coi nhẹ tâm linh như một đối thể khả nghi của khoa học vạn năng, từ đó phần nào và gián tiếp tiếp tay cho “cái lý”của lối sống vô đạo lý, lối sống không có đạo đức hay “sự bất lực trong hành động”, lại càng gia tăng phản bác lối sống thanh đạm mà tu dưỡng tâm linh yêu cầu, do đó đẩy nhanh cuộc chạy đua trong xã hội tiêu thụ - Khoa học chính là như vậy trong thực tiễn nhân sinh.
Đương nhiên cũng không phải chỉ là như vậy. Y nghĩa tinh tuý nhất của khoa học là Hiểu Biết. Nhưng hiểu biết để làm gì? Hầu như mọi người đều nhất loạt khẳng định để phục vụ con người và ai nấy xoa tay khoan khoái vì đã xong rồi một câu trả lời đanh thép và sáng ngời chính nghĩa. Và chính lịch sử hiện thực chứng thực cho câu trả lời ấy trên cả hai vế của nó, tức là “con người” và “phục vụ”.
Vì mỗi con người cụ thể đều thuộc vào một cộng đồng nào đó, được ràng buộc bởi nghề nghiệp, quyền lợi, huyết thống, dân tộc, …Trên lý luận, thí dụ đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa sô-vanh, thuyết không gian sinh tồn, …và trên thực tế lịch sử ở mọi nơi, vào mọi lúc, cụm từ “phục vụ con người” quy định trong khuôn viên ấy tương đương, không một ngoại lệ và không một hưu tức, với Xung Đột, Chiến Tranh và Ap Bức. Thậm chí “phục vụ con người” kiểu ấy, và tiếc rằng đến nay cũng chưa thấy kiểu nào khác từng chiếm giữ, dù chỉ một thời lưọng ngắn ngủi, một vị thế ít nhiều được nể trọng, càng “cao đẹp” bao nhiêu thì con người càng đê tiện bấy nhiêu, càng “nhân đạo” bao nhiêu thì xung đột xã hội càng dã man bấy nhiêu. Khá hiển nhiên rằng con người trong tất cả những hình thái tư tưởng trên đều được quan niệm, trên mặt cấu trúc nhân tính, thiếu hẳn hay bỏ quên thành phần “người” nhất, tức là Tâm Linh. Không một hy vọng “cứu rỗi” nào hết đến với nhân loại trong thế kỷ này nếu Tâm Linh không được khẳng quyết tính hiện hữu của nó trong đời sống mỗi người. May thay, khoa học, trong đà phát triển hiện nay của nó, cùng với cận tâm lý, lại hỗ trợ cho nhu cầu khẳng quyết ấy một cách hết sức thuyết phục và sáng rõ theo cung cách của “ngón tay chỉ Trăng”.
Cũng vì quan niệm con người theo cách trên, thực chất là đạo đức giả, là mánh lới gian manh, là u minh trong dối trá hoặc dối trá trong u minh, nên “phục vụ”không có nội dung nào khác hơn “nâng cao đời sống”, trước hết và sau hết, đời sống vật chất. Ai chẳng biết và ai chẳng thừa nhận “Có Thực mới vực được Đạo” và ai chẳng nói và ai chẳng cố dành bằng được cái đối tượng của “nâng cao”ấy, bao giờ cũng toả ánh hào quang trong mọi đấu tranh chính trị là Quần Chúng, là Nhân Dân. Vì ai cũng nói và ai cũng cố từ “vô thỉ” trong hiện thực của cái mà thuộc tính bản chất được xác định là gian dối, bạc ác, bất nhân, cái ấy là Chính Trị nên phải có một nguyên nhân thường hằng, bât biến nào đó chứ? Nguyên nhân ấy vẫn là và chỉ là sự mờ nhạt, nếu không muốn nói là sự lãng quên, sự bỏ mất Tâm Linh trong sinh hoạt hay trong hoạt động trí tuệ. Nếu mọi người, đặc biệt nhà chính trị thời đại này, xác tín rằng “trong” cái thân xác vật lý chắc thật này còn có một cái chắc thật hơn nhiều lần vì trường tồn và có hiêụ năng kỳ vĩ hơn nhiều lần, ngoài ra gián tiếp qua sự có thực của nó, đang chờ kia một Tưởng Thưởng hay một Trừng Phạt còn chắc thật nhiều lần hơn cái thân xác vật lý chắc thật ấy, cái đó là Tâm Linh thì làm gì còn nữa “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” hoặc “người là chó sói của người”.
Tâm linh ấy là đối thể của thân xác và cái gắn liền với nó, nhu cầu khoái lạc giác quan. Tuy tâm linhvẫn có đó “trong” ta và “của” ta, nhưng đâu hiện rõ “đầu, mình và chân tay” cho ta kính yêu và phục vụ. Để nó hiển lộ, để ta nhận diện được nó, nghĩa là nhận diện chính ta thì, vì nó, do bản chất, không “ưa”gì khoái lạc giác quan nên ta cũng phải theo gương mà, ít nữa sống thanh đạm một chút.
Một cuộc sống thanh đạm do yêu cầu của cái đầy quyền uy và hứa hẹn là Tâm Linh vẫn là, trong suy nghĩ và sẽ là trong hiện thực, mô hình sinh hoạt tất yếu cho một xã hội lý tưởng nhất, an toàn nhất, trí nhất mà con người có thể hình dung được.
27/12/2001
Nguồn:
https://www.facebook.com/thuhienvu22222/posts/10219372383764115
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét