THỨ NĂM, 26 THÁNG 9, 2019·66
MINUTES
Khi chiếc IL-96 tiếp
đất trên phi đạo Charles de Gaulle I, tiếng ồn kinh khủng của những động cơ bắt
đầu lịm dần. Hành khách thở phào vì cái máy bay mang nhiều tiếng xấu sau những
sự cố hàng không ồn ào rồi cũng lẽo đẽo đến được nơi nó phải đến. Vài hành
khách đã nhấp nhổm lấy hành lý, còn tôi thì vẫn cứ ngồi lì mà nhìn quang cảnh
chạy ngược chiều. Ờ, thế là Paris rồi đấy, thật là Paris rồi. Nó đang ở trước
mặt tôi, cho dù tôi không thể thấy ngay tháp Eiffel biểu tượng. Chỉ có một
khoảng trời xanh qua húp lô như ở bất cứ nơi nào .
Từ lâu lắm rồi, tôi
hằng ước ao được đến Paris, dù chỉ một lần. Thành phố này vẫy gọi tôi từ thuở
còn thơ bằng bức bưu ảnh của anh lính thợ đi Tây gửi về cho cha, ông lão hàng
xóm quê tôi. Ông lão đã già, mắt kéo màng, tóc bạc phơ, da nhăn nhúm. Như nhiều
người trong làng tôi thời ấy, ông lão không biết viết, chẳng biết đọc. Ông
chống gậy qua nhà tôi, tần ngần đứng lâu ở cổng, rồi mới cất giọng khàn khàn
gọi “Cậu Hiên ơi, cậu Hiên ời”!. Ông đến nhờ tôi viết bức thư "giả
nhời" con trai. Tấm bưu ảnh thật đẹp đã sờn được đặt trước mặt tôi - một
quảng trường thênh thang, những người đàn ông và đàn bà xa lạ trong những bộ
cánh sang trọng trên nền một giáo đường cổ kính. Tôi bò xoài trên phản gỗ, nắn
nót từng chữ trong bức thư viết thay ông già gửi đứa con từ lâu biệt tích. Ông
lão đang chết mòn trong cái làng bùn lầy nước đọng. Ông chết mòn không phải vì
nghèo, mà vì cô quạnh. Tôi không hình dung bức thư sẽ vượt trùng dương đến tay
anh lính thợ bằng cách nào. Từ cái làng nghèo của tôi tới Hà Nội đã xa, đến
Paris không biết còn xa đến mấy. Thế mà rồi nó đến đấy, mới lạ chứ, và ông bố tội
nghiệp đã hồi sinh khi nhận được tin con. Ông lão trả công viết thuê cho tôi
hai xu.
Tôi kể cho Nguyễn
Tuân nghe kỷ niệm tuổi thơ này. Ông cười hề hề:" Cuộc đời bịa hộ ta nhiều
lắm, nhiều lắm lắm ấy, đến nỗi ta chỉ còn có việc chép lại những gì nó bịa ra mà
thôi. Cái nghiệp văn ấy mà, nó lạ lắm. Chẳng ai ra đời để làm văn cả. Nhà văn,
anh ạ, là sự chọn lựa của niềm đam mê. Nhưng thành nhà văn còn ở sự may rủi.
Cuộc đời có hào phóng sự kiện với mình thì mình mới dễ thành nhà văn".
Lang thang nhiều lần
với Nguyễn Tuân trên phố xá Hà Nội mà ông thuộc đến tận củ tỉ từng ngõ ngách,
ông lan man kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Paris, cứ như thể ông thuộc nó lắm.
Nghe ông nói thì ai cũng nghĩ người mắc bệnh xê dịch thâm căn cố đế nọ đã để
dấu chân mình ở Paris. Hoá ra ông lại chưa tới đó bao giờ.
Nguyễn Tuân thèm được
tới Paris lắm. Ông bảo trong vô số kể các thành phố của địa cầu chỉ có mình nó
mới đích thực là thành phố của văn thơ. Thế đất ở đây hẳn phải là bút nghiên
tọa lạc, nếu ta biết nhìn bằng con mắt của Tả Ao. Khốn nạn, ông lại không có
duyên với nó, mới khổ. Ðến chết ông cũng chưa được gặp nó một lần. Có độ những
độc giả ở Paris yêu Vang Bóng Một Thời và Quê Hương Tức Thiếu Quê Hương[1] khẩn khoản mời ông sang Paris chơi rồi
đấy, vào khoảng năm 1965-1966 thì phải, nếu tôi không lầm. Nguyễn Tuân đã xếp
quần áo vào va li rồi, không quên bỏ vào đấy mấy cuốn sách của ông để mang sang
làm quà. Nhưng rồi ông phải dằn lòng từ chối. Ông nói với tôi: "Các anh ấy
ngại. Cho mình sang xứ tư bản lúc này rách việc lắm, mình thì lại không giỏi
cái khoản giữ mồm giữ miệng". “Các anh ấy” là những bậc chèo lái quốc gia.
Họ chẳng tin tưởng ai trừ họ và bộ hạ thân tín. Tô Hoài thì nhẹ nhàng xách vali
ra sân bay đi Liên Xô hoặc các nước tư bản, chứ Nguyễn Tuân thì không thể. Của
đáng tội, tuy ông không có rắc rối gì với “các anh ấy”, nhưng cũng chẳng phải
người được “các anh ấy” tin tưởng. Mặc dầu ông là người cẩn thận, lại biết sợ
nữa, mà không phải chỉ sợ không thôi, ông còn sợ lắm lắm, người ta vẫn lo ông
sang Paris sẽ đánh mất cái lập trường được dạy dỗ nhiều năm. Rất có thể đó là
do ông đã lỡ lời nói một điều gì đó vào một lúc nào đó mà ông không nhớ.
Giá mà vị trưởng lão
trong bộ lạc xê dịch hôm nay lại được ngồi bên tôi trong chuyến đi hết sức bất
ngờ này nhỉ! Giờ ông đã thành hồn thành phách mất rồi. Ước có ông đi cùng là
ước vậy thôi, như thói thường ta bất giác khát khao điều không thể có, nhưng
tiếc thì vẫn tiếc. Các chuyên gia về cõi âm sẽ cười tôi, tôi biết chứ. Theo
niềm tin của các vị ấy thì nhà xê dịch thâm căn cố đế họ Nguyễn giờ chẳng còn
biên giới nào tồn tại, chẳng cần lo mua vé máy bay, chẳng cần ai mời, ông vứt
tất tật các thứ thị thực nhập cảnh xuất cảnh vào sọt rác, ông muốn đi đâu thì
đi. Tha hồ. Vô tư. Bây giờ ông di chuyển trong không gian còn nhanh hơn ánh
sáng ấy chứ. Chỉ sợ được thế rồi ông lại bảo: "Xê dịch mà vèo vèo như vậy
còn ra cái quái gì! Đi đến Paris tốt nhất là trên một cái xe ngựa!”
Không kỳ vĩ quá như
lời đồn, nhưng phi cảng Charles de Gaulle đúng là một một sân bay lớn, dễ đi
lạc. Viên sĩ quan biên phòng có gương mặt Alain Delon tươi cười cộp dấu vào hộ
chiếu của tôi: "Monsieur đến Paris lần đầu? Nhưng này, đến đây ông cần một
số thời gian nhiều hơn kia. Có hai tuần thì ít quá!".
Paris đáng yêu hơn từ
nụ cười ấy.
Tôi dị ứng với những
cái nhìn biên phòng, cứ như thể mỗi hành khách đi qua cửa kiểm tra là một tên
tội phạm cải trang. Tôi gớm ghiếc những bàn tay lục lọi của giống nhân viên hải
quan. Ở phi cảng này, người ta dễ dãi, hay tôi gặp may không biết, nhưng chẳng
ai hỏi tôi mang theo bao nhiêu ngoại tệ, cũng chẳng ai khám đồ của tôi hết. Mà
không phải vì mặt mũi tôi hiền lành đâu. Những người đi cùng với tôi cũng vậy.
Chỉ phải dừng lại vài phút ghi một lần phiếu nhập cảnh; tên họ, mục đích chuyến
đi, ở bao nhiêu ngày, có thế thôi. Những người bạn đồng hành Nga của tôi vừa
rời Moskva hết ồ lại à vì ngạc nhiên trước sự bất cẩn của người Pháp. Ở dưới
chế độ xã hội chủ nghĩa gần một thế kỷ, họ không tưởng tượng nổi cái phần thế
giới còn lại kia lại có thể lơ là với sự nhập cảnh đến thế. Ngay đi ra khỏi
nước mình, khi chế độ xô-viết không còn nữa, họ vẫn bị xét nét nhiều hơn nữa
là. Nhưng mặt người nào người nấy đều rạng rỡ - họ đã bước vào lãnh thổ cái
”kinh thành ánh sáng" nổi tiếng mà trước đây có nằm mơ cũng không thấy dễ
dàng như vậy. Chính quyền mới của nước Nga, một thứ gì đó nằm giữa những chế độ
mà nhân loại từng biết, ít nhất cũng đã làm được một điều kỳ diệu: công dân muốn
ra nước ngoài chỉ phải làm thủ tục lấy hộ chiếu mất một tháng và nộp một khoản
tiền khoảng chừng 25 đô la. Ðường lối lãnh đạo “dân ngu dễ trị” không còn thích
hợp với một nước Nga đang cần lột xác để theo kịp cuộc sống bình thường của thế
giới bình thường. Không biết có phải ông tổng thống cựu cộng sản Eltsine mê
rượu vodka muốn phô ra một chút dân chủ hay không?
Tôi gặp rủi. Ông bạn
Pháp đón tôi chờ ở một cửa, còn tôi thì do sự dễ dãi của hải quan lại xông ra
một cửa khác. Thế là lạc nhau. Đành phải bám càng một bạn đồng hành mới quen
trên máy bay, leo lên ô tô của người nhà ông ta mà chạy tuốt luốt vào Paris.
Dọc đường, ông người Nga ở Paris liến thoắng giới thiệu với tôi những cửa ô
Parisnằm trên vòng đai thành phố. Đó là theo tên gọi trên bản đồ (cửa ô Orléan,
cửa ô La Chapelle, cửa ô Clignancourt vân vân... trong Các cửa ô Paris - Toutes
les portes de Paris - như người Pháp gọi). Ngoài tên gọi, chẳng có cái cửa ô
theo nghĩa đen nào hết, cho dù một cổng gạch rêu phong như Ô Quan Chưởng của
ta. Dù sao thì những tên gọi ấy cũng làm cho tôi thấy Paris gần gụi hơn, giống
Hà Nội của tôi hơn.
Từ sân bay, Paris mở
ra một khối nhà cửa san sát, nhưng quy hoạch thoáng, không chen chúc. Đường vào
thành phố chạy qua những băng-liơ (banlieue - khu ngoại thị) kiến trúc thanh
thoát với những con đường nhỏ, những ngôi nhà vài ba tầng, có cổng riêng, trên
đó um tùm dây leo hoa lý, hoa phong lữ và nhiều thứ hoa đẹp khác tôi không biết
tên.
Thành phố Paris có
một lịch sử lâu đời từ cuối thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Lúc đó nó chỉ là
một hòn đảo thưa thớt cư dân của một bộ lạc dòng Gaulle có tên là Parisii. Hòn
đảo đó nằm ở vị trí hôm nay của một khu sầm uất là khu Cité. Tên đầu tiên của
Paris được ghi nhận là Lutecia. Parischỉ bắt đầu nổi tiếng trên thế giới với
thời kỳ Phục Hưng và cuộc Ðại Cách mạng Pháp 1789. Ở Paris, những di tích lịch
sử nằm dưới mỗi bước chân.
Với người Việt, Paris
làm xúc động tâm can nhiều hơn bất cứ thành phố nào khác bởi sự gợi nhớ của nó
về quê hương. Người Pháp thực dân để lại dấu ấn của kiến trúc Pháp khá rõ nét
trên các thành phố Việt Nam, cho nên ta mới bắt gặp những nét giống nhau đến
thế giữa Paris với Hà Nội, Sài Gòn. Là người Việt, tôi bắt gặp những nét thân
quen nơi những rãnh nước thải bên hè phố, một cái nắp cống, dáng dấp của Nhà
hát Thành phố cho tới những công viên mà người Hà Nội cũ quen gọi là Vườn hoa -
Vườn hoa Con Cóc hay Vườn hoa Canh Nông.
Cái đập vào mắt tôi
là ở Paris có nhiều bảng chỉ đường. Tôi là anh nhà quê, tôi thích bảng chỉ
đường lắm, càng nhiều càng tốt. Khỏi phải chốc chốc lại túm lấy ai đó để "
Thưa ông, thưa bà cảm phiền, xin chỉ giùm tôi..." Du khách tới Paris, kể
cả người Pháp từ những thành phố khác tới, chỉ cần có bản đồ trong tay là khắc
tìm ra cái mình cần tìm. Người bạn Nga đi cùng tôi chua chát nhận xét:
"Chẳng bì với Moskva của chúng tôi, tìm đường bây giờ rất khó. Chẳng ở đâu
có bảng, trừ ra ở khu ngoại ô có dăm ba cái chỉ đường ra vào thành phố. Ngày
trước còn có người của đảng đứng ở các ngã ba ngã tư (ý nói các cảnh sát viên)
chỉ cho, bây giờ đảng không còn, chẳng còn ai vạch đường chỉ lối cho mình
nữa!". Về cái chuyện bảng chỉ đường thì đúng như vậy - Moskva còn thua cả
Vacsava, Praha hàng xóm. Bù vào đó Moskva có rất nhiều biển cấm: cấm rẽ, cấm
dừng, cấm đỗ... vân vân.
Điều làm tôi ngỡ
ngàng cộng thêm một chút thất vọng khi đi vào trung tâm thành phố là ánh sáng
ban đêm của nó. Tôi đinh ninh sẽ bị cuốn vào một cơn lốc phồn hoa đích thực,
chính cống đô hội. Ở đó tôi sẽ bị xây xẩm mặt mày bởi âm nhạc ầm ĩ, xe cộ ào
ào, đèn màu nhấp nháy, người đi lại như đèn cù, phố phường sáng chưng ánh điện.
Hóa không phải! Trừ ở vài trung tâm ăn chơi, phố phường của Paris hoa lệ không
sáng như tôi hình dung. Những cây đèn đường tỏa một thứ ánh sáng dìu dịu mờ mờ,
đã thế lại còn bị những tán lá tiêu huyền rậm rạp nuốt đi, làm cho quang cảnh
Paris về đêm nói chung còn tối hơn những thành phố đàn em ở Đông Âu như Praha,
Budapest, thậm chí Vacsava nhỏ bé. Tất nhiên, trừ những đại lộ chính như đại lộ
Champs Élysée chạy tuốt từ quảng trường Ngôi sao với Khải hoàn môn nổi tiếng tới
tận quảng trường Kháng chiến (La Défense).
Đứng ở quảng trường
Bastille, nơi có nhà ngục nổi tiếng với đài kỷ niệm cuộc đại cách mạng Pháp mà
ngắm cái cột mảnh khảnh nổi bật trên nền trời đen với tượng thiên thần tự do có
cánh bay trên đỉnh, tự nhiên tôi lại nhớ đến một đêm rừng Việt Bắc tí tách
sương rơi nghe người anh hùng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương
để tiếp tục chiến đấu tả cảnh Moskva đầu thập niên 50: "A lúi, cái đêm
sáng lắm lố, như ban ngày à, nhặt được cái kim rơi xuống đất trên lề đường đấy.
Đường nhựa sạch nhiều nhiều, còn sạch hơn cái giường nứa to của bộ đội mình này
này. Nhà thì cao lắm lố, nhìn lên nhìn lên mãi không hết, cái mũ đội trên đầu
phải rơi xuống đất à...".
Năm 1954, kháng chiến
chống Pháp kết thúc, về đến Hà Nội, chúng tôi thấy đèn điện Hà Nội sáng lắm,
sáng đến nỗi họa sĩ Lê Thanh đức phải ngồi ngay xuống vỉa hè mà vẽ bức Phố Hàng
Thiếc để miêu tả cái ánh sáng cuốn hút kỳ diệu của đèn nê-ông. Rồi tôi tới
Moskva. Thành phố cứ sáng rực lên như trong chuyện thần tiên. Từ trong toa tàu
vào ga Yaroslavsky Vokzal nhìn ra tưởng chừng trước mắt mình là một biển ánh
sáng. Sau bao năm vật đổi sao dời, nhưng trung tâm Moskva bây giờ vẫn còn sáng
hơn trung tâm Paris. Có thể nhìn rõ những ổ gà trên đường và rác rưởi đầy rẫy trên
những vỉa hè. Có thể đọc được cả những tờ truyền đơn in chữ nhỏ của phe đối lập
bần hàn chửi bới nhà cầm quyền béo tốt. Những so sánh với Moskva đến tự nhiên
trong đầu tôi. Nó là thành phố tôi vừa rời khỏi để tới đây, cách Paris có ba
giờ bay.
Những quán sách cũ
lụp xụp bên bờ sông Seine im lìm ngủ yên và những hàng cây rậm lá làm quánh đặc
thêm bóng đêm gợi những liên tưởng hết sức bất ngờ về Paris. Ai đã đọc về Paris
đều biết chúng, những quán sách cũ mộc mạc và thân thiết với không phải một thế
hệ người Paris. Từ lâu rồi, những quán sách cũ đã không còn nuôi nổi các ông
chủ quán uyên bác nữa. Trong thời buổi vidéo và CD ngự trị cả hành tinh, chúng
làm sao sống nổi để cho những con mọt sách mỗi năm một hiếm có chỗ lục bới, mua
bán đổi chác với nhau những ấn phẩm của những thời xưa vang bóng. Khi ông bạn
dẫn tôi đi chơi Paris ban đêm chỉ cho tôi thấy những quán sách cũ vẫn còn đó,
không phải ở dạng mô hình kỷ niệm mà là những quán vẫn hoạt động hẳn hoi, thì
tôi ngạc nhiên đến sững sờ! Thì ra chính quyền (tư sản cơ đấy, mẹ kiếp) chứ
chẳng phải ai khác vẫn bỏ tiền cấp đỡ chúng, nuôi sống chúng. Chao ôi, cái
chuyện có vẻ con con này thế mà làm cho tôi xúc động quá. Thì ra cái chế độ
người bóc lột người mà người ta dạy dỗ chúng tôi phải nguyền rủa hoá ra vẫn có
khả năng hiểu rằng nếu thiếu đi những quán sách cũ ọp ẹp thì Parissẽ không còn
là Parisnữa, sông Seine sẽ không còn là sông Seine nữa.
Trong đêm đầu tiếp
xúc với Paris tôi cứ ngỡ thành phố này bớt ánh sáng đi cho đường phố mờ mờ nhân
ảnh là để chiều các cặp tình nhân trái khoáy, thích bát phố chứ không thích
công viên. Nhiều cặp tân hôn từ mọi miền thế giới ào ào rủ nhau tới đây để
hưởng tuần trăng mật. Nhiều nam thanh nữ tú vượt mấy đại dương đến Paris chỉ để
được làm lễ kết hôn ở nhà thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris), uống một ly cà phê
trong quán La Rotonde nổi tiếng và mặc áo cưới chụp ảnh kỷ niệm dưới chân tháp
Eiffel. Nước Pháp ngày nay vẫn là nước Pháp của những sự kiện lịch sử trọng đại
và kém trọng đại trong quá khứ. Những quốc gia khác vẫn phải ghen với nó, bởi
vì chúng không có một Paris. Lịch sử là tài sản không mua bán được, không sang
nhượng được, không phải cứ giàu tiền mà có.
Đi trước tôi trên
Quai de Grenelle là những tốp nhỏ những chàng trai và những cô gái đủ mọi thứ
màu da và quốc tịch. Tôi chú ý tới các thiếu nữ Nhật Bản, Đài Loan nhiều hơn.
Thoạt trông, họ giống người mình lắm, giống đến nỗi tôi luôn luôn bị nhầm. Tóc
cắt ngắn kiểu gạc-xông, mạnh mẽ và tươi trẻ, họ khua gót giày cao lóc cóc trên
vỉa hè, các chàng trai trong sáng và hồn nhiên quàng tay ôm eo, cho họ dựa vào
mà đi, tin cậy như dựa vào trái đất. Những người khách châu Á, nhất là Trung
Quốc, tới đây mỗi năm một nhiều thêm. Ðó là những khách quí đem lại nhiều tiền
cho thành phố, ông bạn Pháp của tôi nói thế. Nhìn họ đi đứng tự nhiên, như thể
Paris là của họ, mà thèm. Mà thật vậy, vào tháng Tám dân Paris đã leo lên xe
hơi, lên máy bay đi nghỉ hè hết cả rồi, để lại cả thành phố cho du khách bốn
phương. Tội nghiệp, trong suốt thời gian thăm thú Paris tôi chẳng gặp lấy một
du khách nào từ Hà Nội hay Sài Gòn cả, trẻ cũng như già, nam cũng như nữ. Tịnh
không. Trong khi đó thì tôi lại gặp những người Trung Quốc ồn ào chụp ảnh kỷ
niệm cho nhau trước những đài kỷ niệm. Tôi mừng cho họ lắm. Trên mình họ không
còn dấu vết gì của những cuộc chiến do bè lũ ba tên, bốn tên hoặc năm tên xúi
giục trong đại cách mạng văn hóa vô sản cũng như trong những cuộc đấu tranh
giai cấp quỷ khốc thần sầu khác.
Hãy tới Paris với
người yêu, với người tình, trong khi còn kịp. Vào mùa thu vàng châu Âu, thành
phố này đúng là thành phố của tình yêu. Tôi thì không kịp nữa rồi. Tôi đã lỡ
cái thời của mình mất rồi. Thế hệ tôi là thế, chúng tôi chưa kịp lớn đã già.
Chúng tôi không có ngày trăng mật, đứng nói chi tới tuần trăng mật. Tôi đến đây
vừa tình cờ vừa muộn màng, và cũng chỉ có một mình. Đành phải mua cái các đàm
thoại mà nhét vào máy điện thoại tự động nơi góc phố mà gọi về nhà cho vợ. Ở
Parisgọi điện thoại tiện lắm, cứ việc đứng ngoài đường mà gọi đi cả thế giới.
Người ta bảo về mặt này Paris còn hơn cả Mỹ. Ở các thành phố lớn của Mỹ không
có nhiều ca-bin điện thoại như thế này đâu, họ quả quyết thế. Vợ tôi bảo:
"Anh sướng nhé! Cố mà ăn mà chơi cho thỏa thích, cho bõ một lần đến
Paris". Trong giọng nói của vợ tôi có một chút mừng cho tôi, có một chút
ghen tị với tôi. Nàng đã thành bà ngoại, và cũng như tôi, nàng có một tuổi trẻ
giống tuổi trẻ của tôi, lúc ăn cái gì cũng ngon thì chẳng có mà ăn, đến khi có
cái để mà ăn thì lại không ăn được nữa, muốn chơi không chơi được nữa, và như
thế đấy, không phải dễ dàng mà chúng tôi có thể đi cùng nhau tới Paris. Thành
thử tôi cứ một mình một bóng ngẩn người ra mà ngắm cái thành phố lịch sự và
duyên dáng, nơi có quá nhiều chỗ cho trai gái tự tình, đến nỗi có thể treo lên
đâu đó một cái biển " Im lặng! Người ta đang yêu nhau!".
Tôi bất giác muốn đặt
thêm một số tên dịu dàng cho những góc Hà Nội của tôi: đại lộ Mặt Trời, đường
Trăng, phố Gió, hẻm Tình Em, công viên Hò Hẹn... Tại sao lại không thể như thế
được nhỉ? Cứ gì phải lấy tên các danh nhân trong lịch sử và những người không
có tên trong lịch sử nhưng lại có tên không ai biết trong lịch sử của đảng cầm
quyền mà treo lên những con phố, những vườn hoa? Tôi được chứng kiến ở Moskva
sự đổi tên xoành xoạch các lãnh tụ nay còn mai mất vì đã trở thành kẻ thù của
nhân dân, làm điên đầu những du khách mua nhầm bản đồ vừa in ra đã cũ.
Người Pháp hóa ra
không cực đoan. Họ vẫn giữ tên đường Stalingrad như thường, cái tên đã đi vào
lịch sử rồi mà, đổi nó thành Volgograd theo người Nga làm gì. Ở Paris vẫn có
những con đường mang tên những người cộng sản như Paul Vaillant Couturier,
Maurice Thorez. Họ cũng là danh nhân của nước Pháp chứ bộ. Đọc sách tôi thấy
Paris còn có những tên phố ngồ ngộ tựa như phố Con Mèo Đi Câu - Le chat qui
pêche nữa kia. Tiếc quá, trong chuyến đi quá ngắn ngày này tôi chưa tìm ra cái
phố có tên gọi dễ thương đó. Ðành hẹn lần sau vậy. Nếu còn có một lần sau.
Tuy nhiên, tôi cũng
kịp đến uống một ly cà phê ở quán La Rotonde, nơi những nhà thơ lãng mạn lừng
danh của nước Pháp đã tạo nên những vần thơ bất hủ bằng giấy và mực của chủ
quán cho không. Một anh bạn nhà báo rất mực dễ thương còn cho tôi đi uống bia
tươi ở một quán khác chưa đi vào sử sách, nhưng người Paris cũng trọng nó, chỉ
vì Jean Paul Sartre đã ngồi lâu ở đây chiều chiều để ngắm cảnh hoàng hôn đổ xuống
đô thành, để lấy hứng cho những tư tưởng hiện sinh nảy ra trong đầu. Còn một
khách sạn nữa, cũng được người Parisgiới thiệu với khách thăm thành phố (lần
này dẫn tôi đi là một anh lái taxi) vì Hemingway đã ở đây, đã viết một trong
những tiểu thuyết lừng danh (anh lái taxi không nhớ rõ là cuốn nào). Đi đêm ở
Paris, nơi mỗi góc của nó gắn liền với một kỷ niệm cỡ thế giới, dễ suy nghĩ
miên man lắm, dễ mắc chứng mơ mộng lắm, dễ có những ý nghĩ gàn dở lắm, bất kể
tuổi mình là bao nhiêu.
Tôi vừa nói tới con
đường Pigalle nổi tiếng. Một viên cảnh sát, bạn của một ông bạn tôi, sẵn sàng
giới thiệu Paris với tôi, khuyên tôi chớ nên đi bộ ban đêm qua con đường lừng
danh đó. Ông nhét tôi vào chiếc Chevrolet cũ kỹ và chật chội của ông, nói rằng
đi với ông tôi sẽ cưỡi ngựa xem hoa thôi, mà thế cũng đủ rồi, lại bảo đảm an
toàn. Ông nói ông có thể dẫn tôi đi bộ qua con đường ấy, nhưng như thế mất vui.
Những nhân vật ở đường Pigalle không thích chạm trán với ông. Tôi nhớn nhác: ở
đây cũng có cướp hả, hay là thanh niên du đãng? Không, ông bạn cười hắc hắc,
thành phố tương đối yên tĩnh. Nhưng anh bạn thân mến ạ, anh sẽ không chống cự
nổi các cô nàng xinh đẹp tuyệt vời của chúng tôi đâu. Hai tay anh sẽ bị những
bàn tay mềm mại của các nàng giữ chặt, ở Paris giằng co với phụ nữ trên đường
phố thì không ổn rồi, ở đây phụ nữ được tôn thờ, thế rồi các nàng đưa anh đi
đâu thì chỉ có trời biết.
Hai bên con đường
nhỏ, nhỏ như phố Hà Nội, những cô hàng rong bán các mặt hàng tình yêu (tôi nói
các mặt hàng là vì chúng đa dạng lắm) vận những bộ đồ hết sức độc đáo: găng ren
đen, ủng đen, che kín những gì thường để hở, còn những cái cần phải che kín thì
lại được phô ra dưới lần áo làm bằng thứ vải mỏng tang tương tự tuyn may màn,
hoặc còn thưa hơn nữa. Họ không bị cấm à, tôi hỏi? Ồ, sao lại có thể thế được,
ông bạn tôi trả lời, có điều tổ tiên chúng tôi đánh nhau với nghề này nhiều lần
rồi, nhưng lần nào chúng tôi cũng thua, đã bảo đó là cái nghề cổ nhất thế giới
mà. Có điều bây giờ họ phải có thẻ môn bài, phải có giấy chứng nhận y tế và phải
đóng thuế. Như vậy có lợi cho xã hội hơn, mà lợi cả cho họ nữa. Với lại, có
những bà, những cô nghiền cái chuyện đó ông bạn ạ, nó là một thứ bệnh đã được y
học công nhận hẳn hoi. Họ cho tình yêu một cách không vụ lợi, chứ không phải họ
hành nghề. Vậy thì họ có thể ra đấy để cho tình yêu chứ, người ta mới biết chỗ
mà đến xin họ chứ. Cấm họ không được đâu, cấm họ là vi phạm nhân quyền đấy, mà
nước Pháp là nước tôn trọng nhân quyền hàng đầu thế giới. Ở nước ông chuyện này
giải quyết ra sao? May cho tôi chưa kịp nghĩ ra câu trả lời, ông bạn dân Paris
chính gốc, ông đã thao thao bất tuyệt về những cô nàng rởm (trai giả gái) và
những mánh khoé kiếm ăn của họ. Công chuyện làm ăn của cư dân đường Pigal đang
đi xuống. Người Pháp bắt đầu hiểu rằng không đùa được với SIDA và khoảng hai
năm nay họ tránh xa con đường ngắn nhất dẫn tới vương quốc của Satan.
Ở Paris mấy ngày tôi
mới biết mình khờ, mình là kẻ mơ mộng: thì ra không phải người Pháp lãng mạn để
đêm Paris mờ mờ là để vừa lòng những người yêu nhau. Tôi hiểu ra điều đó, có lẽ
thế, khi đến thăm một người bà con sống trong khu ngoại thị. Vừa bước ra khỏi
cái thang máy rất mực hiện đại và lịch sự tôi rơi tuột vào âm ti mù mịt. Thế là
sờ soạng như một người mù trong cái hành lang dài và tăm tối, luôn tay bật lửa để
soi tìm số căn hộ. Tôi nhủ: ở đây mà cũng bị cắt điện như ở mấy thành phố bên
ta thì kỳ thật. Một lần nữa tôi lầm. Lần mò mãi tôi vô tình đụng phải cái công
tắc ở bên tường và thế là cả âm ti bừng sáng. Cha mẹ ơi, thì ra ở đất kinh kỳ
này người ta tiết kiệm điện đấy ạ! Lệ ở cư xá là như thế: ra khỏi thang máy anh
phải tự bật điện hành lang bằng các công tắc đặt dọc lối đi, đèn sẽ sáng đủ để
cho anh tìm đường vào nhà, rồi điện sẽ tự động tắt. Tôi phục người Pháp quá xá.
Họ giàu hơn người của các nước xã hội chủ nghĩa cũ rất nhiều, nhưng họ tiết
kiệm, còn những người kia thì tiếp tục sự phung phí đã thành thói quen của thời
bao cấp. Nhưng nói phục là phục thế thôi, chứ những người bạn ở các dân tộc
khác kêu ca nhiều lắm, chê bai nhiều lắm cái thói chi li của người Pháp thị
dân. Ai đời thết khách ở dưới bếp (bếp lớn, vừa là phòng ăn) lại treo nguyên
cái bảng tổ bố ghi rõ hôm nay đi chợ mua bao nhiêu thứ, hết bao nhiêu tiền. Thế
thì khách được mới còn cảm thấy ngon miệng làm sao được! Biết tính họ, tôi
không dám gọi nhờ điện thoại trong phòng khách nhà mình đến chơi, dù là nhà
người Pháp thật hay nhà người Pháp gốc Việt.
Cứ tưởng thiên hạ nói
ăn chơi Mỹ, thì người Mỹ chắc phải xài tiền như nước. Hoá ra không phải. Người
Pháp, đến lượt mình lại chê ỏng chê eo tính bủn xỉn của người Mỹ. Các cô đầm
bán hàng thích người Nga nhất. Đúng là dân vô sản chính cống, những người thuộc
cái giai cấp chẳng có gì để mà mất, cái gì hôm nay có trong tay là của được,
những nôvưi ruxki (người Nga mới) tiêu pha như ném tiền qua cửa sổ. Sau người
Nga đến những người Trung đông mới nổi nhờ dầu lửa. Bên cạnh những người này,
người Mỹ xem ra khiêm nhường lắm. Một buổi tôi bỏ bữa trà được mời ở nhà hàng
Chez Maxim để một mình đi xem Trung tâm Pompidou (một toà nhà lớn với những
đường ống ngang dọc, trông giống như một nhà máy, nhưng ở bên trong là một
trung tâm thông tin và lưu trữ hiện đại), tôi gặp những người Mỹ mang theo bánh
mì thịt để nhai bên bồn phun nước trước cửa trung tâm. Thì ra họ rất biết tiết
kiệm, những người Mỹ ấy. Không phải cứ là người Mỹ thì họ đều là những nhà tư
bản. Giá cả mỗi thứ ở Parisđều đắt, người Mỹ nhận xét, đắt hơn ở New York
nhiều. Thức ăn trong quán đắt gấp ba ở quầy ngoài đường. Các loại hàng linh
tinh khác cũng đắt lắm. đắt đến nỗi tôi chỉ có thể dán mũi vào tủ kính để chiêm
ngưỡng, chẳng dám mua thứ gì. Ăn uống đặc sản Việt còn đắt hơn nữa. Một tô bún
bò giò heo bình thường giá khoảng 9 đô-la Mỹ. Một bát phở thường (không phải tô
đặc biệt) giá cũng thế. Khiếp quá! Phở cũng khá. Nước dùng ngọt, nhưng bánh tồi,
người ta không có bánh tươi, chỉ có bánh khô Thái Lan thôi. Có có siêu thị Tang
Frères, siêu thị Paris Store của người Tàu, trong đó thượng vàng hạ cám có đủ
mọi mặt hàng phục vụ bao tử. Rải rác trong cái kho đồ ăn đồ uống cũng có vài
thứ của Việt Nam. Tôi gặp bánh phồng tôm An Giang, hương cúng. Nhiều nhất là đồ
Trung Quốc và đồ Thái Lan, giá cả phải chăng. Tôi mua mấy hộp măng chua Thái
Lan mang về Moskva làm quà. Ở Moskva không đào đâu ra thứ đó. Người Nga không
biết măng tre măng nứa là cái gì.
Siêu thị Tang Frères
nằm trong khu người châu Á chiếm một diện tích lớn của quận 13. Những người
Việt ăn đời ở kiếp tại Pháp nói rằng trước đây vài năm Tang Frères "chưa
là cái gì", cửa hàng thực phẩm châu Á chỉ có độc một cái thuộc người Việt
là cửa hàng Thanh Bình, nhưng trong cuộc chiến thương mại với người Tàu, người
Việt thua ngay từ trận đầu. Cửa hàng Thanh Bình bây giờ chỉ còn là một cái
boutique (cửa hàng nhỏ) ở một phố đã hết thời làm ăn đối với người châu Á và
một cửa hàng tương đối lớn ở ngoại thị. Dọc đại lộ Avenue d'Ivry và mấy phố lân
cận san sát những nhà hàng với những biển hiệu sặc sỡ chữ Việt chen lẫn chữ
Tàu, nào Phở Hoà, Phở Tàu bay Lý Thái Tổ, nhà hàng Tân Lido (xin đọc là Li
đô,chứ không phải Lý do), nhà hàng Đại Nam. Đi trên đường này ta nghe ríu rít
bên tai đủ mọi thứ tiếng Đông Nam Á: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào,
Campuchia, Indonésia... Những người Ả Rập (người Việt gọi họ là Rệp), những
người châu Phi (người Việt gọi họ là Nhọ) cũng tới đây để mua các thứ gia vị
phương đông hợp khẩu vị. Cái khu vực đa quốc gia, đa sắc tộc là thế, nhưng nó
vẫn bị người Pháp gọi là Phố Tàu - China Town- như thường. Xét cho cùng, gọi
thế là phải. Người Tàu vẫn cứ là người Tàu, chúa tể của nghề buôn, Tàu đỏ hay
Tàu xanh cũng như nhau. Ở trên tầng một của Paris Store là cả một trung tâm
dịch vụ của người Việt. Nào là các cửa hàng băng nhạc, video, các quán sách
Phượng Hoàng, Thuý Nga, Làng Văn... các phòng mạch, hiệu thuốc, nơi bán vé máy
bay về Việt Nam và đi khắp thế giới, và tất nhiên, các quán ăn với đủ loại món
bình dân và không bình dân tuỳ theo sở thích của thực khách. Tôi mua một suất
bánh cuốn Thanh Trì (không được Thanh Trì cho lắm, bột trong veo và dai quá
nhiều so với Thanh Trì thật) mang về nhà cho ông bác, anh ruột của mẹ tôi. Cô
hàng bánh cuốn trong bộ đầm đỏm dáng cho tôi một suất hương vị quê hương trong
một túi ni-lông sạch sẽ trong đó có nước chấm đựng trong hộp nhựa.
Ông bác tôi được một
bữa ngon miệng. Trong mấy ngày ở Paristôi thường về với ông. Ông ở có một mình,
không còn khả năng đi lại. Các con ông đã phương trưởng, mỗi người mỗi nhà, bận
bịu với công việc, họ ít về với ông, chẳng ai ở với ông. Khái niệm gia đình ở
phương Đông không có ở châu Âu. Chăm sóc ông có cơ quan an sinh xã hội thuộc
Toà thị chính quận. Cứ mỗi tuần ba lần người của cơ quan này đến giặt giũ quần
áo cho ông, đi chợ cho ông, đi gửi thư hoặc lĩnh tiền cho ông, tóm lại người ta
làm đủ mọi việc lặt vặt giúp ông. Bữa ăn hàng ngày thì đã có tiệm cơm tháng
mang tới, khốn nỗi lại là cơm tây, rất đầy đủ calôri, rất ngon với người Tây,
nhưng không ngon với ông. ông thèm một bát canh cua rau muống rau rút lắm, thèm
một bát canh mồng tơi lắm, mà không được ăn. Tôi cũng không nấu được cho ông
mấy bát canh hiếm ấy bởi vì tôi cũng chẳng biết ở chỗ nào của Pariscó rau rút,
mồng tơi và nhất là cua đồng. Cảnh sống cô độc của người già được coi là bình
thường ở Paris, ở các thành phố châu Âu khác cũng thế, nhưng đối với người già
Việt Nam là đặc biệt bi đát. Bi đát vì đã bỏ xứ ra đi nhiều năm rồi, có khi từ
thời trai trẻ, nhưng mỗi ông già bà già Việt Nam đều mang theo trong trí nhớ
nhớ hình ảnh gia đình Việt có ông có cháu quanh mâm cơm, chưa kể những gia đình
quây quần trong cảnh tứ đại đồng đường.
Trong cửa hàng Thuý
Nga vắng khách giá bán một băng Thuý Nga Paris đắt hơn nhiều so với các băng
sao kém chất lượng ở các cửa hàng bên cạnh. Có hôm tôi nhìn thấy chị, một người
đàn bà tầm thước, da ngăm ngăm đen, dáng đi tất tả. Anh bạn đi cùng chỉ cho
tôi, nhưng thấy bà ấy vội vã, đi như gió, tôi không dám làm phiền. Chắc bà đang
bận tổ chức một đêm nhạc. Tôi có thấy tờ quảng cáo cho đêm nhạc sắp tới, nhưng
không thể ở lại xem được, thời gian ở Paris của tôi ngắn quá. Anh em ở đây cho
biết Thuý Nga chẳng lờ lãi bao nhiêu với mấy cuốn băng bà sản xuất, còn lỗ nữa
là khác. Thế nhưng bà vẫn trả tiền cao cho các nghệ sĩ, vẫn bỏ tiền thuê phòng
thu, máy móc hiện đại để có một băng ra băng. Cũng là một dạng người hy sinh
cho tình yêu nghệ thuật.
Một điều nữa làm tôi
ngạc nhiên là thái độ của người Pháp đối với các sắc dân ngoại lai. Ông bạn cảnh
sát nói rằng ở Paris có khoảng gần hai triệu người không phải gốc Pháp sinh
sống. Một người bạn Pháp khác của tôi, loại chính trị gia thính phòng, khẳng
định rằng trong một quốc gia có chừng một phần mười người nước ngoài tới sinh
sống là được, là vừa phải. Những người này sẽ mang lại sự đa dạng trong sinh
hoạt của quốc gia, từ món ăn cho tới phong tục tập quán và hình thái văn hóa.
Tôi dựa cột mà nghe, không biết kết luận đó đúng được bao nhiêu trong làn sóng
di dân ồ ạt có quy mô toàn cầu hiện nay. Chỉ biết nếu rồi đây số người nước
ngoài đến nước ta sinh sống nhiều hơn thì tôi không phải là người phản đối sự
đa dạng hóa ấy. Người Pháp hình như chẳng quan tâm tới chuyện đó, như thể đó là
lẽ đương nhiên. Paris nhan nhản người da màu. Tôi gặp khá nhiều cảnh sát da đen
và vài cảnh sát da vàng. Trong cộng đồng người Việt ở Pháp có một nhân vật danh
tiếng là ông cò Lộc ở Marseille. Người Việt tự hào vì ông, người Pháp quí ông,
một ông thanh tra gốc Việt, vì công lao của ông trong công tác chống mafia,
trộm cắp, và vì đạo đức chí công vô tư của ông.
Đứng trên đường phố
Paris mà nhìn người Việt, người Trung Quốc đi đứng đàng hoàng, chững chạc, hồn
nhiên, tôi lại thương đám đồng bào mình nheo nhóc ở Moskva, thoáng thấy bóng
công an là lẩn như chạch. Thì ra ở cái nước có 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội
lại không có tinh thần quốc tế bằng một nước tư bản giãy chết. Chuyện này đối
với tôi thực sự là chuyện lạ. Nói xã hội chủ nghĩa bị phá nát rồi mới sinh ra
như thế là không đúng. Có nhẽ nào sau 70 năm tồn tại của chủ nghĩa xã hội mà
người ta đánh mất ngay lập tức một thuộc tính xã hội chủ nghĩa là tính quốc tế
sau chỉ vài năm? Tôi nói như vậy không phải có ý nói trong nhân dân Nga có kỳ
thị chủng tộc trong dạng phổ biến. Sự kỳ thị đó không hề có trong những người
dân bình thường, nhất là ở thôn quê, nơi người ta ít được giáo dục chủ nghĩa
quốc tế nhất. Trong chuyện này nước Nga hôm nay còn thua cả nước Nga ngày xưa.
Pushkin, nhà thơ Nga vĩ đại có ông nội là người Ethiopi da đen nhánh, được đại
đế Piốt tin dùng.
Nhân nói chuyện vua
chúa, có anh bạn người Việt hỏi tôi có muốn đến thăm cựu hoàng Bảo Đại hay
không. Cựu hoàng có quen cha tôi và trong câu chuyện với anh vị vua cuối cùng
của triều Nguyễn có nhắc tới những kỷ niệm ấm áp với cha tôi . Kể ra có thời
giờ đến thăm một người già quí mến cha mình đã khuất núi thì cũng tốt, nhưng
tôi không còn thời giờ. Tôi cũng không khoái gặp các bậc vua chúa, đương kim
hay bị phế truất. Chẳng qua tại cái máu thường dân trong tôi quá mạnh. Do có
chân trong Lion’s Club (Câu lạc bộ Sư Tử) ở Moskva, tôi đã hai lần được mời dự
tiệc với Nga hoàng Nikolai Ðệ Tam (một ông vua không ngai, không được ai thừa
nhận, kể cả đám hoàng tộc rải rác ở nước ngoài). Ông bệ vệ trong số quần thần
tự nguyện, rất dễ mến, nhưng ngồi bên ông tôi cảm thấy không được tự nhiên. Giá
ông là người thường để làm bạn với ông thì thú hơn. Tôi không thể bắt chước
người ta đã gọi ông bằng Hoàng thượng, tôi chỉ gọi ông bằng Ngài và coi như thế
là đủ lịch sự. Hoàng hậu của Nikolai Đê Tam rất dễ thương, trong bữa ăn thích bàn
chuyện thơ phú. Hoá ra bà là hậu duệ của Pushkin. Anh bạn tôi nói: cái chuyện
cựu hoàng Bảo Đại là vua hộp đêm là chuyện tào lao, chuyện bịa đặt để bôi xấu
ông. Bảo Đai không trác táng, mặc dầu cũng giống đa tình "như cánh
ta" thôi. Ông cũng có một số của cải nhưng nay hết sạch rồi. Cựu hoàng giờ
sống với một bà đầm kém ông khá nhiều tuổi, nhưng yêu ông thật lòng. Chính bà
bây giờ là người trông nom ông trong tuổi già. Cựu hoàng ít tiếp xúc với người
ngoài. Ông không thích bị lôi kéo vào chuyện chính trị bởi các chính trị gia
thính phòng đủ loại ở các thành phố lớn, .và các bình luận sớm nở tối tàn ở các
quán cà phê vỉa hè.
Người Pháp bề ngoài
không có biểu hiện kỳ thị chủng tộc, mặc dầu người Việt ở lâu bên này bảo là
cái đó có đấy, có điều nó ở dạng ẩn, anh không sống lâu ở đây anh chưa biết đấy
thôi. Thôi thì ẩn cũng được, cứ thế này cũng đã tốt chán. Con một anh bạn mới
quen của tôi vừa rồi đỗ vào trường Quốc gia Hành chánh (nói theo cách anh gọi)
là một trường rất khó thi vào, nơi đào tạo toàn tổng thống, thủ tướng với các
quan chức cao cấp cho nước Pháp. Thế mà cháu đỗ, lại còn đỗ cao nữa mới oách
chứ. Trường học Pháp không có sự phân biệt đối với công dân Pháp, con ông cháu
cha hay là con dân thường, gốc Pháp hay gốc Việt, đã có quốc tịch Pháp là bình
đẳng, bình quyền, tuy không tuyệt đối. Người Pháp nói chung có cảm tình với
người Việt, không phân biệt có quốc tịch Pháp hay không. Sở dĩ có sự trọng thị
này là vì trong các sắc dân từ nước ngoài tới Pháp, người Việt có học nhiều,
nhiều người là trí thức, có danh tiếng.
Một nha sĩ Việt đã ở
Pháp trên bốn mươi năm nói rằng trong suốt thời gian ấy ông đã ở qua nhiều địa
phương của nước Pháp nhưng chưa bao giờ bị cảnh sát hỏi giấy căn cước. Người
không có giấy tờ có thể sống cả chục năm mà chẳng hề bị làm phiền. Cảnh sát
không có quyền tự dưng hỏi giấy một người đi dưới bầu trời, trắng hay vàng, đen
hay nâu, nếu như người đó không làm gì vi phạm pháp luật. Thế thì phải quá rồi,
Paris là tỉnh thành của thế giới thì nó phải khác với Moskva nhà quê của thế giới
chứ. Ở Paris cảnh sát có dáng trí thức, nói năng lịch sự, thưa gửi, cảm ơn đàng
hoàng. Ở Moskva cảnh sát mở miệng ra là mày tao với người nước ngoài, hỏi giấy
bất kỳ lúc nào anh ta thích. Nói cho đúng, tôi có thấy cảnh sát Pháp chặn lại
hỏi giấy mấy người Ả Rập vào 12 giờ khuya ở ga Gabriel Péri, ga chót đường
Métro số 13. Ga này nằm trong khu ngoại thị Agnières-Genevilliers là nơi người
Ả Rập cư ngụ rất đông. Hỏi mấy anh cảnh sát thì họ cho biết việc kiểm tra người
Ả Rập khả nghi do đích thân tổng thống hoặc thủ tướng ra lệnh và đó là chuyện
hãn hữu lắm mới có. Ở Alger, họ cho biết, có mấy Pháp kiều bị giết, ngay ở thủ
đô Pariscũng có một số người Ả Rập tàng trữ vũ khí gây lộn xộn. Xem ra việc
cảnh sát đối với con người thế nào cũng là một thứ thước đo trình độ văn minh
của một quốc gia.
Tôi không có mấy thời
giờ đến với nhiều gia đình Việt. Những người tôi gặp đều có vẻ thư thả, chứ
không tất bật như người mình ở Moskva hay Warszawa. Ý thức về quốc thể của
người Việt ở Pariscao. Ai mà không đàng hoàng, làm cho người Pháp khinh người
Việt đều bị lên án. Không giống ở Moskva, trong cộng đồng Việt Nam ở Paris, mà
ở các tỉnh khác trong nước Pháp cũng thế, không có cướp, dù là cướp lưu hành
nội bộ. Ở Moskva chuyện người Việt bị cướp Việt đâm chém và lột sạch là chuyện
thường ngày ở huyện.
Đáng buồn là ở Paris
tôi gặp không ít người Việt trong cộng đồng sống dính chặt với quá khứ, không
sao dứt ra được. Tưởng chừng thời gian của họ bị dừng lại từ vài ba thập niên
trước. Câu mà tôi thường được nghe ở họ là người quốc gia chúng tôi thế này,
người quốc gia chúng tôi thế nọ. Cứ như thể tôi là người ở phía bên kia, tuy
nhiên bây giờ các vị cũng sẵn sàng chiếu cố nói chuyện với tôi (giọng nói ở chỗ
này hơi cao lên một chút, hơi kẻ cả một chút), chứ mấy năm trước ấy à, tôi mà
đi ngoài đường một mình là lôi thôi to đấy. Tôi cười hiền lành, nói rằng vì tôi
không được ủy nhiệm đại diện cho ai, cho nên tôi không thích nói chuyện quốc
gia cộng sản, nói về cái đó tôi sẽ buồn ngủ, mất vui. Bây giờ là lúc người Việt
gặp nhau nên nói chuyện làm thế nào để cho Tổ quốc giàu nhanh lên một tí, cho
đồng bào được sống sung túc thêm một tí thì hay hơn.
Chúng ta còn khối
việc để làm. Chẳng hạn một việc cỏn con như nhập về cho các thành phố của chúng
ta cái phòng vệ sinh công cộng rất độc đáo mà tôi gặp ở đây để đặt ở đường phố
hoặc công viên. Ở Paris tôi cứ ngắm mãi cái thứ lạ mắt đó - một cái kiốt hình
trụ bằng đuyra, bỏ tiền vào thì cửa mở ra, trong đó là một hố xí sạch sẽ bên
trên có hàng chữ:" Khi quí ngài dùng xong hố xí này sẽ được rửa sạch, sấy
khô và tiệt trùng ". Không có một chữ cấm ngặt nào cả. Chỉ phải cái đắt[2]. Mỗi lần vào đấy là mất đứt 80 cent
Mỹ. Tôi nghĩ người Việt có làm thứ này sẽ biết cách tính sao cho vừa túi người
dùng để đồng bào khỏi đái đường. Mặc dầu thứ nhất quận công... thật, nhưng đi
cần ở cái hố xí văn minh cũng khoái lắm. Nó làm cho ta, về một mặt nào đó, cảm
thấy mình chẳng kém gì thế giới.
Tôi có tới thăm một
xưởng (biết gọi nó là cái gì nhỉ?) chuyên tận dụng các dây điện bỏ đi. ông chủ
xưởng kiêm công nhân cho tôi xem từ chỗ bỏ dây điện phế thải vào cho tới chỗ
nhựa ra đằng nhựa, đồng ra đằng đồng, thứ nào thứ nấy sạch bong, rác bên đất
cát được chảy riêng ra một đường khác để đổ đi. ông chủ chỉ thuê công nhân bốc
vác khi xe đồng nát chở nguyên liệu tới, còn ông làm gần như một mình, với anh
phụ việc, một thanh niên nông dân đặc. Công việc sản xuất được tự động hóa
tuốt, rất nhàn. Cái xưởng bơ tí thế mà ngốn cả trăm tấn nguyên liệu một tháng
đấy. Thết tôi một bữa thịt nướng tại quán La Paillote (Nhà Tranh) của địa
phương xong ông thấy tôi tò mò chuyện máy móc, bèn dẫn tôi sang làng bên xem
kho sắt vụn của cánh vừa chủ vừa thợ của ông. Thì ra ở đây cũng đầy rẫy những
con người hay lam hay làm lùng bới trong những máy móc bỏ đi lấy cái này ghép
với cái khác làm thành những cỗ máy có nhiều công dụng hay đáo để. Tôi nói rằng
ở nước tôi cũng có những người như các ông thì họ cười ha hả, lấy làm thú vị lắm.
Chẳng hiểu họ thông báo với nhau thế nào mà có một ông già râu tóc bạc phơ lật
đật chạy tới, ôm chầm lấy tôi, lúc lắc tay tôi liên hồi không chịu bỏ ra. Phút
xúc động qua rồi ông mới nói được rằng ông đã đến Việt Namtrong "cái cuộc
chiến tranh đáng nguyền rủa".
Có một chuyện về khái
niệm tự do cũng thú vị. Tôi và một anh bạn Pháp ngồi nghỉ ở một ghế dài công
cộng. Không cứ trong các công viên, trên hè phố thỉnh thoảng đâu đó lại có
những cái ghế như thế cho khách bộ hành. Chúng tôi hút thuốc lá và nói chuyện
trên trời dưới đất. điếu thuốc cháy hết, tôi đang lúng túng tìm chỗ vứt đi, thì
thấy anh bạn Pháp vứt cái đầu mẩu của anh xuống đất rồi lấy mũi giày dí nát.
Nhìn xuống thấy không phải chỉ có một cái đầu mẩu của anh bạn mà còn vô số đầu
mẩu khác vương vãi quanh ghế. Tôi hỏi anh bạn tại sao ở Parismỗi người lại có
thể vứt bậy bạ như thế mà không bị cảnh sát phạt thì anh trả lời:" Chúng
tôi là người tự do. Chúng tôi đã đóng thuế để nuôi những người quét rác thì
chúng tôi phải được tự do vứt đầu mẩu thuốc lá chứ. Còn việc của người quét rác
là quét đi những thứ tôi vứt xuống đất". Tuy nhiên, tôi vẫn thấy có những
thùng rác đặt bên vỉa hè, người đi đường cũng vứt rác vào đó, thường là rác
lớn, còn đầu mẩu thuốc lá là họ quăng bừa, chẳng cần tìm đến thùng rác. Trong
chuyện này tôi cho rằng người Pháp có vẻ có lý, nhưng lý không hay.
Ngày cuối cùng của
tôi ở Paris là ngày mệt mỏi nhất. Tính lại mới thấy còn nhiều chỗ mình chưa đi.
Thí dụ như khu Fontainebleau, nơi phái đoàn đầu tiên của nước Việt Namđộc lập
ngồi đàm phán ngang hàng với cựu mẫu quốc. Thí dụ như bảo tàng Le Louvre, với
tượng Vệ nữ thành Milo, với tranh Rembrandt, Renoir, Van Goh...Tôi đã tới
Ermitage nhiều lần và tôi hiểu rằng không thể thăm Le Louvre trong một buổi.
Định dành cả một ngày đi xem, thế mà rồi không thành. Thay vì đi Le Louvre tôi
bị kéo đi cách Paris200 cây số để tới một điền trang. Ở đó tôi chỉ thích thú
được thấy những đống rạ tây hình khối tròn và phát hiện mùi đất ở đâu cũng na
ná như nhau. Thôi thì đành dùng cái ngày cuối cùng vào việc mua sắm ít quà cáp
cho những người bà con nghèo ở cửa hàng Tati bán đồ rẻ nhất Paris, lang thang
phố xá trong khu La tinh cho tới mỏi cẳng, ngồi nghỉ bên đám họa sĩ từ chiếng
(rất nhiều người Trung Quốc) chăm chú vẽ chân dung du khách trước Nhà thờ Đức
Bà, tán rông rài với một anh ma cà bông gốc Việt sống bằng cái nghề rất kỳ cục
là sáng tác thơ ứng khẩu đọc cho khách qua đường. Tôi định mua một bức bưu ảnh
Nhà thờ Đức Bà Paris đúng như tôi đã thấy trong tuổi thơ nhưng không kiếm đâu
ra. Một bức giông giống thế tôi đã mua được trong một buổi chiều leo lên ngọn
đồi cao nhất Paris để hoà vào dòng du khách thanh lịch ùn ùn kéo tới đó nghe
chuông chầu đổ hồi từ gác cao Thánh đường Trái tim Thiêng Liêng (Sacré-Coeur).
Phần còn lại của ngày tôi ngồi trên một chiếc tàu ruồi (tạm dịch cụm từ
bateau-mouche) để lướt qua một lần nữa quang cảnh Paris nhìn từ sông Seine với
những cây cầu cổ xưa mà Banzac, Victor Hugo, Beaudelaire... đã bao lần đi qua.
Hoàng hôn xuống trên sông Seine cũng đẹp lắm, nó đi cùng con tàu ruồi của tôi
tới bến cuối cùng vừa đúng lúc Tháp Eiffel cháy rực lên ánh điện trên nền trời
đang ngã sang sắc tím Gaugin.
"Tôi chỉ ở đây
có ba ngày trong số hai vạn bốn ngàn ngày tôi sống trước kia". đó là Konxtantin
Paoustovsky than thở như thế trong "Paris Chốc Lát". Ông tiếc ông ở
Paris quá ít. Tôi ở Paris suýt soát gấp năm lần ông, nhưng tôi cảm thấy thua
ông chỉ ít cũng gấp năm lần về ấn tượng thu được từ thành phố đáng yêu này. Mà
trong năm lần ít hơn ấy đã tính cả tình yêu của ông đối với Paristruyền cho
tôi. Cần phải có một chất lượng sống của những con sói biển trong làng văn
chương để đi tới những vùng đất mình chưa biết.
Tôi đã dũng cảm ở lại
Paris quá thời hạn thị thực bốn ngày. Tôi dùng chữ dũng cảm bởi vì tôi chưa
biết người Pháp sẽ đối xử với với kẻ vi phạm thế nào tại phi cảng Charles de
Gaule. Tôi mới chỉ ở những nước mà một sự vi phạm như thế sẽ gây ra một
xì-căng-đan rất không êm dịu khi bước qua biên giới. Nhưng anh cảnh sát biên
phòng, lần này là anh khác, gày và cũng rất điển trai, lại không ngó tới sự vi
phạm của tôi mà hỏi tôi chuyện khác. Anh tưởng tôi dùng máy quay vidéo Nikon
khi nhìn thấy dây đeo mang tên hãng nọ. Tôi chìa cho anh ta xem cái camera Sony
và nói rằng đó là râu ông nọ cắm cằm bà kia thôi. Anh ta cười rất tươi, cộp dấu
đánh bốp rồi nháy mắt với tôi: "Mong rằng ông còn tới Paris lần nữa. Hẹn
gặp lại!". Tôi nói rằng nhất định thế rồi, tôi sẽ còn tới đây nữa, và
không phải một lần, rồi thở phào bước qua đường biên giới tượng trưng để ra
khỏi nước Pháp của anh.
Chế Lan viên để lại
những câu thơ tuyệt vời:
Nhớ bản sương giăng,
nhớ đèo mây phủ.
Nơi nào qua mà lòng
chẳng yêu thương.
Khi ta ở chỉ là nơi
đất ở,
Khi ta đi đất đã hóa
tâm hồn.
Tôi giận mình chẳng
biết làm thơ. Nếu làm được, tôi sẽ viết về Paris những lời thật đẹp. Nhưng nói
về nỗi nhớ một vùng đất một lần đã đi qua thì đã có Chế Lan Viên rồi, hà tất
phải làm một cái gì khác.
Vũ Thư Hiên Paris -
Moskva 7-8 / 1994
[1] Có một cuốn sách tên đúng như thế. Ông
phán Sở kiểm duyệt không hài lòng với nhan đề Thiếu Quê Hương của Nguyễn Tuân:
“Thống chế Pétain đã nói: “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc” mà huynh lại đặt tên
sách của mình là Thiếu Quê Hương, còn ra làm sao?” Sau một cong thuốc phiện,
Nguyễn Tuân phân trần: “Nhưng tên Thiếu Quê Hương đã được quảng cáo mất rồi.
Đặt cái tên khác, người ta không biết, cho là cuốn nào khác. Hay là thế này,
huynh thấy có được không? Là Quê Hương, nhưng thêm bên dưới Tức Thiếu Quê
Hương”. Ông phán Sở Kiểm duyệt suy nghĩ rồi nói: “Thế cũng được”.
[2] Bây giờ các ki ốt vệ sinh (tạm gọi là
như thế đi) đều miễn phí.
Nguồn:
https://www.facebook.com/notes/v%C5%A9-th%C6%B0-hi%C3%AAn/paris-m%E1%BB%99t-tho%C3%A1ng/2621526147912470/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét